Giáo Dục

Thuyết minh về một loài động vật hay vật nuôi ở quê em


Nhớ về quê hương, người ta không chỉ nhớ về những kỉ niệm, những con người mà còn nhớ về những hình ảnh thân thuộc như cây cối, vật nuôi.

Câu trả lời:

Bài mẫu 1: Thuyết minh về con trâu

Hình ảnh con trâu đã gắn liền với làng quê Việt Nam, với người nông dân chân lấm tay bùn, với cây đa và lũy tre làng. Bởi trong tâm thức của người Việt, con trâu là biểu tượng của sự cần cù, chăm chỉ, hiền lành, chất phác như chính họ.

Bài làm

“Trâu ơi ta bảo trâu này

Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta

Cấy cày vốn nghiệp nông gia

Ta đây trâu đấy ai mà quản công?”

Bài ca dao quen thuộc với mỗi người Việt Nam cũng giống như hình ảnh con trâu đã gắn liền với làng quê Việt Nam, với người nông dân chân lấm tay bùn, với cây đa và lũy tre làng. Bởi trong tâm thức của người Việt, con trâu là biểu tượng của sự cần cù, chăm chỉ, hiền lành, chất phác như chính họ.

Trâu được nuôi nhiều ở các vùng nông thôn, đặc biệt là vùng đồi núi ở Việt Nam bởi đặc tính tự nhiên của trâu có thể chịu được lạnh và thích kiếm ăn trong rừng. Trâu Việt Nam có nguồn gốc từ trâu rừng được con người thuần hóa cách đây hàng ngàn năm, thuộc nhóm trâu đầm lầy. Trâu là loài động vật hiền lành, thuộc lớp thú, lông có màu xám hoặc xám đen, không dày. Thân hình trâu vạm vỡ, hơi thấp, chân ngắn. Bụng trâu to, mông dốc xuống. Một con trâu trưởng thành có thể nặng tới hơn 500kg. Đuôi trâu dài, thường xuyên phe phẩy để đuổi những động vật kí sinh như ruồi, muỗi. Là động vật có vú, trâu có bầu sữa nhỏ, nằm ở dưới bụng và sẽ nuôi con bằng dòng sữa ấy. Trên đầu trâu thường có một bộ sừng dài, cứng, nhọn hoắt, hình lưỡi liềm. Đây là vũ khí tự vệ của trâu cũng là đặc điểm còn sót lại của trâu rừng sau khi được thuần hóa. Trâu đực xem bộ sừng là thứ để biểu lộ sức mạnh của mình với những con trâu cái, sừng càng dài, càng cứng càng chứng tỏ đó là một con trâu khỏe mạnh. Những con trâu ấy sẽ thu hút được những con trâu cái hơn những con trâu khác. Mỗi năm trâu chỉ đẻ từ một đến hai lứa, mỗi lứa một con và sẽ nuôi còn bằng sữa mẹ.

Từ xưa đến nay, trâu luôn là nông cụ quan trọng của người nông dân bởi đây là loài gia súc lớn, khỏe, cung cấp sức kéo để cày bừa trên khắp các cánh đồng. Đặc tính của trâu là loài động vật hiền lành, chăm chỉ, chịu thương chịu khó nên hầu hết những công việc nặng nhọc trong nhà nông đều do con trâu gánh vác. Từ sớm tinh mơ cho đến tận khi mặt trời đã khuất núi, con trâu cùng với người nông dân cần mẫn trên những cánh đồng. Từ cày đến bừa, từ cấy đến gặt, khi nào cũng thấy có mặt của con trâu để giúp con người làm ra hạt lúa, hạt gạo. Có lẽ vì thế mà nhân dân ta nhắc đến con trâu bằng một tình cảm yêu mến, trân trọng Con trâu là đầu cơ nghiệp, Ruộng sâu trâu nái…Trâu cũng là nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng cho con người. Thịt trâu có hàm lượng đạm cao, hàm lượng chất béo thấp rất tốt cho người đang điều trị bệnh béo phì hoặc bổ sung dinh dưỡng khi mới ốm dậy. Sữa trâu cũng là nguồn cung cấp chất đạm, chất béo. Dù không tốt và thơm ngon như sữa bò song đây cũng là nguồn sữa có thể bổ sung và cải thiện bữa ăn cho trẻ em vùng núi. Da trâu cũng có thể làm mặt trống, làm giày rất dày và bền. Sừng trâu làm đồ mĩ nghệ, đồ trang trí.

Đâu chỉ mang tới những lợi ích vật chất, con trâu còn gắn bó với đời sống tinh thần của con người Việt Nam. Tuổi thơ của biết bao thế hệ gắn liền với những ngày tháng thong dong chăn trâu trên đồng cỏ của làng. Hình ảnh những em bé ngồi trên lưng trâu thổi sáo, đọc sách hay con trâu thủng thẳng gặm cò còn mấy đứa trẻ túm năm tụm ba chơi đánh bi, đánh chắt, thả diều, chọi gà đã từng đi vào thơ ca, hội họa của không biết bao nhiêu nghệ sĩ. Những hình ảnh ấy khiến cho con người ta thầy tâm hồn mình bình lặng lại sau những xô bồ, vội vã của cuộc sống thành thị. Giang Nam cũng viết về tuổi thơ chăn trâu của mình qua những vần thơ:

“Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường

Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ:

“Ai bảo chăn trâu là khổ?”

Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao”

Trong văn hóa của người Việt, con trâu cũng là một biểu tượng cho một năm. Trong 12 con giáp, trâu đứng hàng thứ hai sau Tý và đứng trước 10 con vật khác, thuộc âm. Người ta cũng chẳng thể quên hình ảnh của chú bé Định Bộ Lĩnh đầu ba chỏm đã cùng đám trẻ chăn trâu trong vùng Hoa Lư cưỡi trâu rước cờ lau tập trận. Định Bộ Lĩnh là một bị vua xuất thân từ hình ảnh chú bé mục đồng, cũng gắn liền với con trâu.

Những chú trâu mập mạp còn gắn liền với những lễ hội truyền thống trong văn hóa của người Việt Nam. Có những lễ hội thu hút rất đông du khách tới tham gia như lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn, Hải Phòng. Trước đó, những chú trâu được chăm sóc chu đáo khiến con nào con nấy vạm vỡ, khỏe mạnh với đôi sừng cong vút, nhọn hoắt. Trong tiếng trống giục giã, tiếng reo hò cổ vũ của khán giả trên khán đài, hai chú trâu lao vào nhau mà húc, mà chọi. Bên cạnh đó, ở Tây Nguyên cũng có lễ hộ đâm trâu để mừng một vụ mùa bội thu. Thịt trâu sẽ được dùng để cúng bái thần linh, phần còn lại sẽ được sẻ thịt để chia cho mỗi nhà trong buôn làng.

Vượt ra khỏi lũy tre làng, hình ảnh con trâu vàng trong SEA GAMES 22 đã gây ấn tượng với bạn bè quốc tế, trở thành biểu tượng của con người Việt Nam cần cù, chịu thương chịu khó nhưng cũng rất thân thiện, sáng tạo và thông minh.

Con trâu đã gắn bó với con người Việt Nam từ hàng nghìn năm nay nên cuộc sống hiện đại với những vật dụng thông minh thì con trâu vẫn sẽ luôn giữ được vị trí, vai trò của mình trong cuộc sống của chúng ta.

Bài mẫu 2: Thuyết minh về con gà

Con gà cục tác hay gà trống hướng về ánh mặt trời thực sự gợi lên cảm giác thân thuộc và gần gũi. Đó là hình ảnh thuộc về riêng đất nước Việt Nam.

Bài làm

Quê hương là nơi chôn rau cắt rốn, nơi mỗi chúng ta sinh ra và lớn lên. Nhớ về quê hương, người ta không chỉ nhớ về những kỉ niệm, những con người mà còn nhớ về những hình ảnh thân thuộc như cây cối, vật nuôi. Quê hương tôi cũng có những loài vật nuôi mà ai đi xa cũng luôn ghi nhớ. Trong đó, tiêu biểu và gần gũi nhất là con gà.

Hình ảnh con gà từ bao đời nay vẫn luôn đi liền với hình ảnh quê hương Việt Nam. Gà có nguồn gốc từ giống gà rừng hoang dại, được con người đem về nuôi trở thành vật nuôi ở nhà. Khoa học kỹ thuật phát triển hiện đại, nhiều giống gà mới được nghiên cứu lai, phối, đặc điểm hình dáng, năng suất khác nhau. Nhưng loài gà được phân thành gà mái và gà trống. Tuy kích cỡ và đặc điểm cơ thể có vài nét khác nhau nhưng nhìn chung cấu tạo của chúng gồm đầu, thân, chân, cánh, đuôi. Đầu gà to nhỏ khác nhau nhỏ hơn nắm tay người lớn. Mắt bé xíu, sáng long lanh như một giọt nước trong veo. Mỏ chúng nhỏ hơi cong xuống ở đầu, màu vàng, khi mổ xuống sẽ phát ra âm thanh. Trên đầu gà là mào gà đỏ tươi, mào gà trống lớn hơn mào gà mái, mào gà mái nhỏ xíu nhìn như không có. Người chúng phủ toàn lông nhưng lông gà trống thường rực rỡ hơn gà mái. Cánh tròn, khép ở hai bên mình, thỉnh thoảng cũng vỗ phành phạch bay từ bờ này sang bờ khác. Do yêu cầu sống bới đất tìm mồi, chúng được tạo hóa ban cho một đôi chân to móng cùn và cứng, phủ lớp vẩy sừng mỏng màu vàng. Gà trống có lông đuôi dài sặc sỡ, chân có cựa – lực lưỡng và oai vệ. Còn gà mái yểu lại có lông đuôi ngắn, mảnh mai, chân không cựa. Gà mái kêu cục tác, gà trống lại gáy ò ó o…Thức ăn của gà là thóc, gạo, các loài côn trùng, giun đất, các loại bột dạng viên, một số loại rau… Chúng có thể tự đi kiếm ăn mà không nhất thiết phụ thuộc vào con người.

Gà nở ra từ trứng, lớn dần thành gà mái, hoặc gà trứng. Gà mái đến tuổi sẽ đẻ trứng, mỗi lứa có thể đẻ từ 15 đến hơn 20 quả. Trứng ấp trong khoảng 3 tuần trong điều kiện nhiệt độ thích hợp sẽ nở ra gà con xinh. Gà con mở mắt sẽ đi theo vật mà nó trông thấy đầu tiên. Chúng cùng mẹ đi kiếm ăn, gà mẹ chỉ cần cất tiếng gọi nhẹ, gà con sẽ nhanh chóng lon ton chạy tới. Gà mẹ hết mực che chở cho con, sẵn sàng giang rộng đôi cánh ngăn cách con khỏi kẻ thù.

Gà là vật nuôi thân thuộc ở mỗi làng quê, có vai trò to lớn trong đời sống con người. Trước tiên gà đem lại lợi ích kinh tế. Trứng gà chứa nhiều chất dinh dưỡng, có thể chế biến thành chiên, luộc, ốp la… Mỗi buổi sáng, một quả trứng ốp la kẹp bánh mì là món ăn được người phương Tây ưa chuộng. Trứng gà đánh tan với bột mì có thể làm bánh ga-tô, bánh kem. Thịt gà là một trong những nguyên liệu được dùng làm món ăn đặc sản ở nhiều vùng miền, với nhiều cách chế biến khác nhau. Có nhiều món được chế biến từ gà như gà luộc chấm muối tiêu, gà xé trộn rau răm, gà hấp, gà chiên, gà quay,… Lông gà xử lý sạch còn dùng để làm quạt, làm cầu đá, áo lông, đặc biệt qua xử lý hóa học còn làm được bột giặt. Ngày xưa, ông bà ta luộc trứng gà kèm theo đồ bạc để cạo gió khi cảm sốt. Ngày nay, chị em phụ nữ dùng trứng gà để đắp mặt nạ, dưỡng da. Chất thải của gà cũng được tận dụng làm phân bón.

Không chỉ có giá trị vật chất, gà còn là vật nuôi mang ý nghĩa tinh thần quý giá. Tiếng gà gáy là chiếc đồng hồ báo thức cho mọi người, trở thành âm thanh bình dị của làng quê. Gà là biểu tượng cho sự sống an lành với người dân Việt Nam. Mâm cơm cúng gia tiên, thần thánh không thể đầy đủ nếu thiếu đi con gà luộc mang hàm ý tỏ lòng trân trọng biết ơn. Gà đi vào thơ ca dân gian, trở thành một trong những chủ thể của tranh Đông Hồ nổi tiếng.

Thời gian trôi đi, gà là vật nuôi không thể thiếu của quê hương tôi và cả nông thôn Việt. Hình tượng con gà cục tác hay gà trống hướng về ánh mặt trời thực sự gợi lên cảm giác thân thuộc và gần gũi. Đó là hình ảnh thuộc về riêng đất nước Việt Nam.

Bài mẫu 3: Giới thiệu về con vịt

Vịt đàn thường được nuôi thành từng đàn lớn, hàng trăm hay hàng ngàn con. Chúng có sức chịu đựng kham khổ và ít mắc bệnh, kiếm mồi rất giỏi trên đồng ruộng. Vịt đàn đẻ nhiều, trứng nhỏ nhưng ngon. Thịt vịt đàn được nhiều người ưa thích vì có vị ngọt đậm và thơm.

Bài làm

Vịt là loài gia cầm được người nông dân chăn nuôi từ lâu đời bởi nó mang lại rất nhiều lợi ích. Hình ảnh từng đàn vịt khoảng vài chục con thong dong bơi lội trên mặt ao, mặt đầm hay hàng ngàn con sục sạo kiếm mồi, kêu ồn ã cả một quãng đồng là hình ảnh quen thuộc ở làng quê.

Các giống vịt chủ yếu của nước ta gồm vịt đàn hay còn gọi là vịt tàu, vịt cỏ. Loại này thân nhỏ, đầu và mỏ thanh tú, lông có nhiều màu: Đen, nâu, xám, xanh đen pha trắng… trọng lượng chỉ độ 1 kg đến 1,5 kg. Vịt đàn thường được nuôi thành từng đàn lớn, hàng trăm hay hàng ngàn con. Chúng có sức chịu đựng kham khổ và ít mắc bệnh, kiếm mồi rất giỏi trên đồng ruộng. Vịt đàn đẻ nhiều, trứng nhỏ nhưng ngon. Thịt vịt đàn được nhiều người ưa thích vì có vị ngọt đậm và thơm. Nông dân ở các vùng đồng bằng miền Bắc, miền Nam thường nuôi vịt đàn theo lối chăn thả tự nhiên từ trước đến nay.

Bên cạnh giống vịt đàn còn có giống vịt bầu. Vịt bầu lớn con hơn vịt đàn, cổ ngắn, chân thấp, lông nhiều màu, dáng đi lạch bạch. Thịt vịt bầu cũng mềm và ngọt nhưng nhiều mỡ hơn vịt đàn. Các gia đình nuôi vịt bầu vừa phục vụ cho nhu cầu sử dụng ngày giỗ, ngày Tết, vừa bán để tạo nguồn thu nhập quanh năm. Đồng bào miền Nam trước đây nuôi rất nhiều giống vịt cổ lùn, có những đặc điểm tương tự như vịt bầu ngoài Bắc, để tận dụng nguồn thức ăn phong phú từ kênh rạch và đồng ruộng.

Hiện nay, các trại chăn nuôi quốc doanh và tư nhân đầu tư khá lớn về mặt vật chất để nuôi giống vịt nhập từ nước ngoài vào, gọi là vịt siêu thịt. Vịt siêu thịt được nuôi theo kiểu công nghiệp trong chuồng trại, ăn cám hỗn hợp, được theo dõi và tiêm chủng thường xuyên. Trọng lượng của giống vịt này khá lớn, sau 3 tháng có thể đạt tới trên 3 kg một con. Đặc điểm vượt trội của nó là chất lượng thịt đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu, chế biến thành nhiều món ăn cao cấp.

Để việc chăn nuôi vịt ngày càng phát triển, đem lại hiệu quả cao, người nông dân phải nắm vững kĩ thuật chăm sóc, từ khâu chọn giống đến chế độ dinh dưỡng, chuồng trại, vệ sinh phòng bệnh… Vịt là loài thủy cầm ăn tạp. Thức ăn của chúng gồm nhiều loại. Loại cung cấp prô-tê-in có thóc, ngô, khoai, sắn, cám… Loại cung cấp chất khoáng có bột vỏ sò, bột xương… Thức ăn đầy đủ chất dinh dưỡng sẽ giúp cho vịt khỏe mạnh, tăng trưởng nhanh, đẻ nhiều và chất lượng thịt cao.

Trong giai đoạn hiện nay, ngành chăn nuôi trong đó có chăn nuôi vịt đã đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế chung của cả nước. Vịt là loài gia cầm đem lại nhiều lợi ích cho đời sống của con người, là nguồn thu nhập thường xuyên của nông dân.

Bài mẫu 4: Giới thiệu về con chó

Người ta có thể ngửi thấy mùi thức ăn ở đâu đó trong nhà bếp nhưng chó thì có thể phân biệt từng gia vị trong nồi, thậm chí những chú chó săn còn tìm ra những cây nấm con con nằm sâu trong rừng, vì chúng có thể phân biệt gần 220 triệu mùi.

Bài làm

Chó là một loài động vật rất có ích cho con người. Nó trung thành, dễ gần và là bạn của con người. Cũng có thể vì thế mà người ta gọi nó là “linh cẩu”.

Chó có rất nhiều loại và từ đó người ta đặt tên cho chúng. Chó là một trong số những loài động vật được thuần dưỡng sớm nhất. Trung bình chó có trọng lượng là từ một đến tám mươi ki-lô-gam.

Chó là giống vật nuôi đầu tiên được con người thuần hóa được cách đây 12.000 năm vào thời kỳ đồ đá. Tổ tiên của loài chó bao gồm cả cáo và chó sói (một loài động vật có vú gần giống như chồn sinh sống ở các hốc cây vào khoảng 400 triệu năm trước). Còn loài chó như chúng ta thấy ngày nay được tiến hóa từ một loài chó nhỏ, màu xám.

Lúc mới ra đời, chó con không có răng nhưng chỉ sau 4 tuần tuổi đã có thể có 28 chiếc răng. Bộ hàm đầy đủ của loài thú này là 42 chiếc.

Mắt chó có đến 3 mí: Một mí trên, một mí dưới và mí thứ ba nằm ở giữa, hơi sâu vào phía trong, giúp bảo vệ mắt khỏi bụi bẩn. Tai của chúng thì cực thính, chúng có thể nhận được 35.000 âm rung chỉ trong một giây. Khứu giác của chúng cũng rất tuyệt vời. Người ta có thể ngửi thấy mùi thức ăn ở đâu đó trong nhà bếp nhưng chó thì có thể phân biệt từng gia vị trong nồi, thậm chí những chú chó săn còn tìm ra những cây nấm con con nằm sâu trong rừng, vì chúng có thể phân biệt gần 220 triệu mùi. Chó phân biệt vật thể đầu tiên là dựa vào chuyển động sau đó đến ánh sáng và cuối cùng là hình dạng. Vì thế thị giác của chúng rất kém. Ta có thấy vào mùa đông lạnh, thỉnh thoảng chó hay đuôi che lấy cái mũi ướt át, đấy là cách chúng giữ ấm cho mình.

Chó có đến 2 lớp lông: Lớp bên ngoài như chúng ta đã thấy, còn lớp lót bên trong giúp cho chúng giữ ấm, khô ráo trong nhũng ngày mưa rét, thậm chí còn có nhiệm vụ “hạ nhiệt” trong những ngày oi bức.

Chó là loài động vật có bốn chân, mỗi bàn chân đều có móng vuốt sắc nhưng khi đi thì cụp vào. Chó có bộ não rất phát triển, xương quai hàm cứng. Đặc biệt, tai và mắt chó rất thính và tinh vào ban đêm. Chó vẫy đuôi để biểu hiện tình cảm. Chó là loài động vật có bộ phận tiêu hóa rất tốt.

Chó có đặc tính là chạy rất nhanh bằng bốn chân, tốc độ lao về phía trước khoảng từ bảy mươi đến tám mươi km một giờ. Hơn nữa, chó cũng có khả năng đánh hơi rất tài. Hiện nay chó hoang dã vẫn còn tồn tại, nhưng chó được thuần dưỡng như chó nhà, chó cảnh thì phổ biến hơn.

Chó thuần dưỡng có nhiệm vụ trông, giữ nhà và thường nặng từ mười lăm đến hai mươi ki-lô-gam, có tuổi thọ trung bình từ mười sáu đến mười tám năm. Loại chó bắt được tội phạm được gọi là chó nghiệp vụ, trinh thám, và thường rất to, cao, tai vểnh, hoạt động nhanh nhẹn, linh hoạt và thông minh. Chúng được nuôi rất công phu. Một số loại chó khác như chó săn thường rất khôn. Chó cứu hộ được dùng trong việc cứu hộ ở các bến cảng, sân bay,… nơi xảy ra sự cố.

Ở một số nước trên thế giới, chó còn chuyên để kéo xe. Nhưng không hẳn là chỉ có ích, nó còn rất dễ bị bệnh, đó là bệnh “dại”. Thường là thời gian đầu chó rất bình thường, ít người phát hiện ra để đề phòng. Khi bị chó dại cắn, lúc bấy giờ mới thấy rõ việc nguy hiểm đến tính mạng con người. Vì vậy cần phải tiêm phòng cho chó thường xuyên theo định kì để tránh bị mắc bệnh.

Chó là loài động vật rất có ích trong mọi lĩnh vực. Chó còn là bạn của con người bởi sự thông minh, lanh lợi, trung thành và nhiều tác dụng của nó. Chó được coi là loài động vật rất quan trọng và giúp việc đắc lực cho con người.

Con chó luôn ở bên cạnh ta trong phú quý cũng như trong lúc bần hàn, khi khoẻ mạnh cũng như lúc ốm đau. Nó ngủ yên trên nền đất lạnh, dù đông cắt da cắt thịt hay bão tuyết lấp vùi, miễn sao được cận kề bên chủ là được.

Bài mẫu 5: Giới thiệu về con mèo

Vũ khí để săn mồi là móng vuốt. Khi gặp con mồi, nó thường đứng từ xa cách con mồi khoảng chừng 5 đến 6 mét. Sau đó nó nằm bẹp hạ cơ thể xuống sát đất, mắt chăm chăm nhìn không nháy mắt đến đối tượng đồng thời bước tới con mồi cần săn rất nhẹ nhàng.

Bài làm

Có rất nhiều loài vật đã được con người thuần hoá, nuôi dưỡng và trở thành “thú cưng” trong mỗi giã đình. Nhưng trong số đó, có thể nói mèo là loài vật được yêu chiều, nâng niu nhất.

Mèo nhà là một phần loài trong họ mèo (trong họ mèo còn có báo, linh miêu..). Theo những căn cứ khoa học đáng tin cậy thì chúng đã sống gần gũi với loài người trong khoảng từ 3.500 năm đến 8.000 năm.

Có rất nhiều các giống mèo khác nhau, một số không có lông hoặc không có đuôi. Các màu lông mèo rất đa dạng: màu trắng, màu vàng, màu xám tro… Có những chú mèo mang nhiều màu lông nên có những tên gọi như mèo tam thể (có ba màu lông), mèo vằn (hai màu lông chạy xen nhau), mèo đốm,…

Mèo con từ 1 tháng tuổi trở lên đã được mèo mẹ dạy các động tác săn bắt mồi như chạy, nhảy, leo trèo, rình và vồ mồi. Mèo 4 tháng tuổi có thể bắt được chuột, gián, thạch sùng… Chúng giao tiếp bằng cách kêu “meo”, “mi-ao”, “gừ-gừ”, rít, gầm gừ và ngôn ngữ cơ thể. Mèo trong các bầy đàn sử dụng cả âm thanh lẫn ngôn ngữ cơ thể để giao tiếp với nhau.

Thông thường mèo nặng từ 2,5 kg đến 7 kg. Cá biệt, một số chú mèo từng đạt tới trọng lượng 23 kg vì được cho ăn quá nhiều. Trái lại, cũng có những chú mèo rất nhỏ (chưa tới 1,8 kg), ở tình trạng nuôi trong nhà, mèo thường sống được từ 14 năm tới 20 năm. Chú mèo già nhất từng biết đến trên thế giới đã sống 36 năm. Mèo giữ năng lượng bằng cách ngủ nhiều hơn đa số các loài động vật khác, đặc biệt khi chúng già đi. Thời gian ngủ hàng ngày có khác nhau, thường là 12 giờ đến 16 giờ, mức trung bình 13 giờ đến 14 giờ. Một số chú mèo có thể ngủ 20 giờ trong ngày. Vì thường chỉ hoạt động nhiều lúc mặt trời lặn, mèo rất hiếu động và hay đùa nghịch vào buổi tối và sáng sớm.

Mèo là những “vận động viên điền kinh” tài giỏi có thể chạy rất nhanh và nhảy xuống đất từ độ cao lớn. Có điều đó vì chúng có cấu tạo cơ thể rất đặc biệt.

Mèo có bốn chân, mỗi bàn chân đều có vuốt và đệm thịt ở phần tiếp xúc với mặt đất. Giống như mọi thành viên khác của họ mèo, vuốt của mèo thu lại được. Bình thường, ở vị trí nghỉ các vuốt được thu lại trong da và lông quanh đệm ngón. Điều này giữ vuốt luôn sắc bởi chúng không tiếp xúc với mặt đất cũng như cho phép mèo đi nhẹ nhàng rình mồi. Các vuốt chân trước thường sắc hơn so với phía sau. Mèo có thể giương một hay nhiều vuốt ra tùy theo nhu cầu. Khi rơi từ trên cao xuống, mèo có thể sử dụng cảm giác thăng bằng sắc bén và khả năng phản xạ của nó tự xoay thân tới vị trí thích hợp. Khả năng này được gọi là “phản xạ thăng bằng.” Nó luôn chỉnh lại thăng bằng cơ thể theo một cách, khiến chúng luôn có đủ thời gian thực hiện phản xạ này khi rơi. Giống như chó, mèo là loài vật đi trên đầu ngón chân: chúng bước trực tiếp trên các ngón, các xương bàn chân của chúng tạo thành phần thấp nhìn thấy được của cẳng chân. Mèo có thể bước rất chính xác, bởi vì khi đi, chúng đặt bàn chân sau (hầu như) trực tiếp lên đầu của bàn chân trước, giảm thiểu tiếng ồn và dấu vết để lại. Điều này cũng giúp chúng có vị trí đặt chân sau tốt khi bước đi trên bề mặt ghồ ghề.

Hỗ trợ đắc lực cho mèo trong quá trình di chuyển, ngoài chân ra còn có đuôi. Đuôi mèo dài và uyển chuyển, chúng được dùng để xua đuổi ruồi muỗi. Nhưng chức năng chủ yếu là giữ thăng bằng khi chạy nhảy leo trèo.

Tai mèo khá thính. Đa số mèo có tai thẳng vểnh cao. Nhờ tính năng động cao của cơ tai mà mèo có thể quay người về một hướng và vểnh tai theo hướng khác. Mắt mèo cũng là một bộ phận khá đặc biệt. Nghiên cứu cho thấy tầm nhìn của mèo tốt nhất vào ban đêm so với người, và kém nhất vào ban ngày. Màu mắt của mèo khá đa dạng: màu vàng, màu đen, màu nâu, màu xanh… về thính giác, con người và mèo có tầm thính giác ở mức thấp tương tự như nhau, nhưng mèo có thể nghe được những âm thanh ở độ cao lớn hơn, thậm chí tốt hơn cả chó. Khi nghe âm thanh nào đó, tai mèo sẽ xoay về hướng đó; mỗi vành tai mèo có thể quay độc lập về hướng nguồn âm thanh. Khứu giác của mèo cũng rất phát triển. Nó mạnh gấp 14 lần so với của con người. Số lượng tế bào khứu giác ở mũi của chúng cũng nhiều gấp đôi, do dó mèo có thể ngửi thấy những mùi mà chúng ta không nhận thấy được.

Mèo là động vật ăn thịt thế nên đối tượng để nó săn mồi cho nhu cầu sinh tồn là những loài vật nhỏ như: chuột, rắn, cóc nhái, cá… Vũ khí để săn mồi là móng vuốt. Khi gặp con mồi, nó thường đứng từ xa cách con mồi khoảng chừng 5 đến 6 mét. Sau đó nó nằm bẹp hạ cơ thể xuống sát đất, mắt chăm chăm nhìn không nháy mắt đến đối tượng đồng thời bước tới con mồi cần săn rất nhẹ nhàng. Khi đến gần khoảng cách mà nó cảm thấy ăn chắc, loài mèo tung ra sức mạnh cuối cùng bằng cách đẩy mạnh 2 chân sau và đồng thời phóng mạnh toàn cơ thể tới phía trước và dùng móng sắc nhọn duỗi thẳng ra và chụp lấy con mồi. Ngày nay, loài mèo luôn sống với người qua nhiều thế hệ con cháu. Cho nên, thức ăn của loài mèo là cơm hoặc thức ăn sẵn. Nhưng thức ăn ưa thích nhất của loài mèo vẫn là món cá.

Mèo thường tránh nơi ẩm ướt và ở rất sạch sẽ. Để làm vệ sinh cho cơ thể, nó thường thè lưỡi ra, tiết nước bọt vào chân của nó rồi bôi lên mặt và toàn thân thể. Hành động này cho thấy mục đích nó muốn xóa sạch các vết bẩn, ngay cả hơi tay của con người vừa mới bồng hay vuốt ve nó. Loài mèo luôn tự làm lấy vệ sinh cho cơ thể nhiều lần trong ngày, thường là lúc nó mới ngủ dậy hay đi đâu đó về. Hành động đó đã trở thành thói quen thường thấy ở loài mèo ngay cả khi cơ thể của nó không có vết bẩn nào cả.

Trải qua một thời gian dài được con người thuần dưỡng, ngày nay, mèo đã trở thành một loài vật cưng trong nhiều gia đình, đặc biệt là các em nhỏ. Mèo không chỉ là một “người bảo vệ”, một “dũng sĩ diệt chuột” mà còn là một loài vật cảnh hết sức dễ thương. Có lẽ bởi vậy, tinh cảm giữa con người và loài mèo sẽ ngày càng gắn bó hơn.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button
You cannot copy content of this page