Đề cương tuyên truyền kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1/5

Nội Dung Bài Đề cương tuyên truyền kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1/5

Đề cương tuyên truyền kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1/5

Bài tuyên truyền kỷ niệm ngày 1-5
Nhân kỷ niệm 135 5 Ngày Quốc tế Lao động (1/5/1886 – 1/5/2021), Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam biên soạn Đề cương tuyên truyền kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1/5. Hoatieu xin trân trọng giới thiệu toàn văn bản Chỉ dẫn.
Chỉ dẫn tuyên truyền cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng quần chúng các ngành nhiệm kỳ 2021 – 2026
Top 4 bài bài tuyên truyền về an toàn giao thông hay tuyển lựa
I. LỊCH SỬ, Ý NGHĨA NGÀY QUỐC TẾ LAO ĐỘNG 1/5 VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG HƯỞNG ỨNG TẠI VIỆT NAM
1. Lịch sử và ý nghĩa Ngày Quốc tế Lao động 1/5
Từ nửa cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản bước sang quá trình độc quyền, sản xuất công nghiệp đẩy mạnh; ở 1 số nước như Anh, Pháp, Đức, Mỹ…tăng trưởng mạnh bạo. Cộng với những bước tiến của nền kinh tế tư bản, giai cấp tư sản đẩy mạnh bóc lột và bần hàn hóa người lao động lao động; tranh chấp giai cấp càng ngày càng thâm thúy, dẫn tới nhiều cuộc chiến đấu giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản diễn ra với quy mô càng ngày càng to.
Trong cuộc chiến đấu đấy, vấn đề thời gian khó động có ý nghĩa quan trọng. Ngay sau lúc thành lập Quốc tế I 5 1864, C.Mác coi việc rút ngắn thời gian khó động là 1 nhiệm vụ chiến đấu của giai cấp vô sản. Tại Đại hội lần thứ nhất của Quốc tế I họp tại Gieneve (Thụy Sĩ) tháng 9/1866, vấn đề chiến đấu đòi ngày làm việc 8 giờ được coi là nhiệm vụ quan trọng. Khẩu hiệu “Ngày làm 8 giờ” sớm hiện ra ở 1 số nơi của nước Anh – nước có nền công nghiệp tăng trưởng sớm nhất toàn cầu. Yêu sách này dần lan sang các nước khác.
Nước Mỹ, từ 1 non sông có nền kinh tế lỗi thời, lệ thuộc vào châu Âu, đã mở mang sản suất, mau chóng tăng trưởng biến thành nước công nghiệp bậc nhất toàn cầu. Thành phố Chi-ca-gô biến thành trung tâm thương mại của Mỹ. Nước Mỹ dấn thân cuộc chạy đua cạnh tranh tư bản quyết liệt. Các guồng máy chạy hết công suất suốt ngày đêm, hàng vạn người lao động bị buộc phải làm việc mỗi ngày từ 14 – 18 giờ, đàn bà vần vật lao động ko kém gì nam giới, mà đồng lương chỉ bằng 1/2 nam giới và suốt tuần ko có ngày nghỉ; trẻ con phải làm việc 12 giờ/ngày.
Ngày 1/5/1886, tại thành thị Chi-ca-gô (Mỹ), hưởng ứng lời kêu gọi của “Liên đoàn lao động Mỹ”, hàng chục nghìn người lao động toàn thành thị thực hiện đình công, tổ chức mít tinh và biểu tình trên đường phố (40 ngày ko tới nhà máy làm việc). Khẩu hiệu “Ngày làm việc 8 giờ” biến thành tiếng khái quát của giai cấp người lao động, chính quyền tư sản rơi vào thế thụ động. Cuộc chiến đấu vì chỉ tiêu dân sinh, dân chủ, vì sự văn minh xã hội bị đàn áp đẫm máu, song đã tạo được sự hưởng ứng, ủng hộ mạnh bạo của người lao động khắp nước Mỹ lên tiếng ủng hộ yêu sách của người lao động Chi-ca-gô. Người lao động Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Hà Lan…tổ chức nhiều cuộc mít tinh bộc bạch sự nhất trí với người lao động Mỹ.
Để ghi nhận những thành tựu của phong trào người lao động các nước, ngay trong Đại hội thành lập Quốc tế thứ II, được triệu tập ngày 14/7/1889, các đại biểu của giai cấp người lao động đã phê duyệt Nghị quyết lấy ngày 1/5 làm ngày kết đoàn chiến đấu của người lao động lao động trên toàn toàn cầu. Từ đấy ngày 1/5 biến thành ngày Quốc tế Lao động.
Thực hiện Nghị quyết của Quốc tế thứ II, ngày 1/5/1890 lần trước hết, Ngày Quốc tế Lao động được kỷ niệm với quy mô toàn cầu. Người lao động ở các nước Mỹ, Canada, Pháp, Đức, Áo, Đan Mạch, Bỉ, Thụy Điển, Hà Lan, Ý và nhiều nước khác thực hiện đình công, mít tinh, xuống đường biểu tình mang theo biểu ngữ “Ngày làm 8 giờ”, “Vô sản tất cả quốc gia kết đoàn lại”.
Ngày Quốc tế Lao động 1/5 đã biến thành ngày Lễ tại nhiều non sông trên toàn cầu, dành để suy tôn lao động và gây dựng kết đoàn lao động trên toàn cầu; là ngày hội của giai cấp người lao động và quần chúng lao động trên toàn toàn cầu, ngày kết đoàn giai cấp người lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn cầu trong cuộc chiến đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và văn minh xã hội.
2. Hoạt động hưởng ứng Ngày Quốc tế Lao động 1/5 tại Việt Nam
Từ những 5 đầu của thế kỷ XX, đồng đội Nguyễn Ái Quốc (Chủ tịch Hồ Chí Minh) đã quảng bá chủ nghĩa Mác – Lê nin vào Việt Nam, giúp người lao động lao động (CNLĐ) Việt Nam thông suốt phong trào cộng sản, người lao động, công đoàn toàn cầu, nhất là về Cách mệnh Tháng Mười Nga và Ngày Quốc tế Lao động 1/5. Ngày 1/5/1925, người lao động Chợ Mập, người lao động đường sắt Dĩ An và người lao động Đà Nẵng biểu tình bộc bạch ý chí bảo vệ Liên bang Xô – Viết.
Tháng 2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam có mặt trên thị trường. Ngay trong Cương lĩnh trước hết, Đảng xác định vai trò, sứ mạng lịch sử của giai cấp người lao động (GCCN) Việt Nam là giai cấp chỉ đạo cách mệnh, cốt cán trong khối liên minh công – nông. Phong trào chiến đấu ngày 1/5/1930 đã mở màn cho cao trào cách mệnh 1930 – 1931. Lần trước hết dưới sự chỉ đạo của Đảng và chỉ dẫn, di chuyển của Công hội đỏ, người lao động cùng dân cày mít tinh biểu tình kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1/5, chiến đấu đòi lợi quyền, bộc bạch tình kết đoàn với CNLĐ toàn cầu.
Ngày 18/2/1946, Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh số 22c quy định ngày 1/5 là 1 trong những ngày lễ chính thức của nước ta. Ngày 29/4/1946, Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh số 56 quy định người lao động được lợi lương ngày nghỉ lễ Quốc tế Lao động 1/5. Ngày 1/5/1946, lần trước hết trong lịch sử nước ta, Ngày Quốc tế Lao động 1/5 được diễn ra kỷ niệm trọng thể tại Hà Nội, với sự tham gia của 20 vạn quần chúng lao động. Từ đấy, Ngày Quốc tế Lao động (1/5) hằng 5 là 1 trong những ngày lễ to của quốc gia, ngày hội của GCCN và quần chúng lao động Việt Nam.
Ngày 1/5/1951, trong lời kêu gọi nhân ngày Quốc tế Lao động, Bác Hồ xác định “Trọng tâm thi đua là: Quân đội thi đua giết thịt giặc lập công. Người lao động thi đua tăng gia tư xuất. Dân cày thi đua sản xuất lương thực. Trí thức thi đua sáng tác, phát minh. Cán bộ thi đua cần, kiệm, liêm, chính. Toàn dân thi đua hăng hái tham dự kháng chiến”. Ngày 1/5/1958, Bác đưa ra “Lời kêu gọi nhân Ngày Quốc tế Lao động” khẳng định: “Bữa nay, cộng với quần chúng lao động toàn toàn cầu, chúng ta nhiệt thành chào mừng Ngày 1/5 trong lòng đầy tin cậy và phấn chấn cố gắng vượt mọi gieo neo, tiến lên làm tròn những nhiệm vụ mới…”. Ngày 1/5/1964, nhân Ngày Quốc tế Lao động, Bác gửi điện khen ngợi thanh niên trên công trường khôi phục đường sắt Thanh Hoá – Vinh, trong đấy có việc xây lại Cầu Hàm Rồng.
Bắt đầu từ sau 5 1975, kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1/5 ở Việt Nam càng ngày càng có ý nghĩa lúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kỷ niệm Ngày Chiến thắng 30/4. Đây là dịp giai cấp người lao động và quần chúng lao động cả nước ôn lại truyền thống chiến đấu chống ngoại xâm; sôi nổi hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước để bộc bạch lòng hoài tưởng, hàm ơn thâm thúy với Chủ tịch Hồ Chí Minh – lãnh tụ lớn lao của dân tộc ta. Người đã có công huân rất béo to giúp quần chúng ta tinh thần được ý nghĩa lịch sử và ảnh hưởng của việc kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1/5, từ đấy càng thêm cố gắng đi theo tuyến đường cách mệnh do Đảng và Bác mến yêu đã tuyển lựa, xây dựng và bảo vệ kiên cố Non sông Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
II. ĐÓNG GÓP CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN, TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ CÁCH MẠNG
1. Sự có mặt trên thị trường của tổ chức Công đoàn Việt Nam (28/7/1929)
5 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công xâm lăng Việt Nam, ghi lại bằng sự kiện đổ quân lên bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng). Mục tiêu của chúng là chiếm Việt Nam làm thị phần tiêu thụ hàng hóa, khai thác khoáng sản và bóc lột nhân lực rẻ mạt; chiếm Việt Nam làm căn cứ quân sự của Pháp tại vùng Đông Nam Á.
GCCN Việt Nam có mặt trên thị trường trong công đoạn khai thác thực dân địa của thực dân Pháp, tính tới 5 1929, tổng số người lao động làm việc trong các công ty tư bản Pháp là hơn 22 vạn người, trong đấy 5,3 vạn thợ mỏ; 8,6 vạn người lao động các đơn vị quản lý công, thương mại; 8,1 vạn người lao động các đồn điền.
Có áp bức, có chiến đấu. Bị thực dân Pháp bóc lột nặng nề, người lao động Việt Nam đã chiến đấu chống lại. Tuy nhiên, phần to các cuộc chiến đấu thời đoạn này vẫn còn rải rác và mang tính tự phát, thiếu tổ chức và chỉ đạo.
Ngày 28/7/1929, theo quyết định của Đông Dương Cộng sản Đảng, Nguyễn Đức Cảnh triệu tập hội nghị đại biểu Công hội đỏ Bắc Kỳ lần thứ nhất, họp tại ngôi nhà số 15 Hàng Nón, Hà Nội. Hội nghị đồng tình phê duyệt chương trình, điều lệ và phương hướng hoạt động, bầu Ban Chấp hành lâm thời do Nguyễn Đức Cảnh đảm trách.
Ngày 3/2/1930, Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Đảng, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, lực lượng cốt cán là hội viên Công hội đỏ Bắc Kỳ.
2. Phong trào người lao động và hoạt động Công hội đỏ trong những 5 (1930 – 1945)
Đầu 5 1929, cuộc khủng hoảng kinh tế các nước tư bản đã tác động trực tiếp tới nước Pháp. Chính quyền thực dân địa trút mọi hậu quả lên đầu quần chúng Việt Nam. Đời sống của GCCN vốn đã gieo neo, lại càng gieo neo thêm. Trước tình hình đấy, Công hội đỏ đã chỉ đạo người lao động lao động chiến đấu trong cao trào cách mệnh 1930 – 1931, với trận ra quân trước hết của người lao động Nhà máy Xe lửa Tràng Thi (Hà Nội), Nhà máy cưa, Nhà máy Diêm Bến Thủy (TP. Vinh – Nghệ An) đúng vào ngày 01/5/1930. Phong trào cách mệnh dâng cao, bộ máy chính quyền của đế quốc và phong kiến ở nhiều vùng nông thôn bị tan rã hoặc tê liệt, tổ chức Nông hội đỏ điều hành, quản lý mọi hoạt động trong làng xã. Lần trước hết tại Việt Nam, đã hiện ra 1 bề ngoài chính quyền mới, chính quyền của những công nhân – chính quyền Xô viết Nghệ Tĩnh. Xô viết Nghệ Tĩnh để lại cho GCCN những bài học quý giá về giành và xây dựng chính quyền cách mệnh công nông.
Những 5 1932 – 1935, phong trào cách mệnh của GCCN Việt Nam bị thực dân Pháp đàn áp man rợ, phần đông số cán bộ Đảng và Công hội đỏ đều bị địch bắt, làm cho mối liên lạc giữa Đảng và nhân dân, giữa Công hội đỏ và phong trào người lao động tưởng như bị đứt đoạn. Thêm vào đấy, hiện trạng khủng hoảng kinh tế vẫn rất trầm trọng và kéo dài, khiến cho 8 vạn người thất nghiệp, hoàn cảnh GCCN càng thêm điêu đứng, đau khổ. Nhờ sự lỗ lực bền chí của cán bộ, hội viên và niềm nở cách mệnh của GCCN, phong trào cách mệnh trong cả nước khởi đầu bình phục.
Từ 1936 – 1939, là thời đoạn di chuyển cách mệnh sôi nổi và chiến thắng chưa từng thấy dưới thời Pháp cai trị, nhằm đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình của GCCN Việt Nam. Hàng trăm cuộc đình công của người lao động do các hội Ái hữu tổ chức đã dành được chiến thắng, buộc chính quyền thực dân phải ban hành nhiều thông tư, nghị định hứu khắc phục các đề nghị thiết thực của người lao động như tăng lương, giảm giờ làm từ 10 giờ/ngày xuống 8 giờ/ngày bắt đầu từ ngày 1/1/1938 và đảm bảo nhiều quyền tự do dân chủ khác. Tiêu biểu là cuộc đình công của 3 vạn người lao động khu mỏ than Hòn Gai (11/1936); người lao động xe lửa tuyến Vinh – Dĩ An (1937); cuộc biểu dương lực lượng của 3 vạn người lao động, lao động Hà Nội trong ngày 1/5/1938.
Ngày 01/9/1939, chiến tranh toàn cầu lần thứ 2 khởi đầu đưa nhân loại vào 1 thảm họa mới. Lợi dụng tình thế chiến tranh, các đề quốc Anh, Pháp, càng thẳng tay bóp nghẹt phong trào dân chủ trong nước và tiến hành chế độ khắc nghiệt đối với các nước thực dân địa. Ngày 28/9/1939, toàn quyền Đông Dương ra nghị định cấm mọi hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp tuyên truyền cộng sản, lưu hành, tích trữ mọi tài liệu của cộng sản, giải thể các hội Ái hữu, Nghiệp đoàn.
Tháng 5/1941, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 đã quyết định chuyển hướng chỉ huy chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên bậc nhất. Chiến trường Việt Minh được thành lập, các hội nhân dân biến thành hội cứu quốc. Dù rằng bị địch đàn áp man rợ, mà với ý thức cách mệnh, GCCN và Hội người lao động cứu quốc vẫn tăng trưởng phong trào trên các địa bàn xung yếu (Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Hòn Gai, Sài Gòn…).
Từ tháng 5/1945, GCCN tham dự phong trào chiến đấu chính trị liên kết chiến đấu vũ trang, khởi nghĩa từng phần, thành lập chính quyền cách mệnh của quần chúng. Để đẩy mạnh cung ứng vũ khí cho cách mệnh, hội viên người lao động cứu quốc ở nhiều xí nghiệp đã lấy nguyên nguyên liệu của nhà máy để chế tác vũ khí, trang bị cho các tổ tự vệ tranh đấu.
Ngày 2/9/1945, dưới sự chỉ đạo minh mẫn, cương quyết của Đảng, đứng đầu Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, GCCN đã biến thành lực lượng cốt cán, cộng với quần chúng cả nước đứng lên dành chính quyền, làm nên cuộc Cách mệnh tháng 8 thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước Công nông trước hết ở Đông Nam Á.
3. Phong trào người lao động và hoạt động Công đoàn trong thời đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954)
Sau Cách mệnh tháng 8, quốc gia ta gặp muôn ngàn gieo neo, vừa tăng trưởng kinh tế, xã hội, vừa chống giặc ngoại xâm. Người lao động đã tham dự tranh đấu bảo vệ cơ sở sản xuất của chính quyền cách mệnh, tham dự đình công, bãi thị và tiến công phá hoại các cơ sở kinh tế quan trọng của thực dân Pháp trên khu vực.
Để hợp nhất về tổ chức trên khuôn khổ cả nước, 20/6/1946, tại số nhà 51 Hàng Bồ (Hà Nội), Hội nghị cán bộ cứu quốc được triệu tập. Tại Hội nghị này, Hội người lao động cứu quốc được đổi thành “Công đoàn” và quyết định thành lập Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Ngày 20/7/1946, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tuyên bố chính thức được thành lập và trọng thể ra mắt nhân dân lao động trong cả nước tại Nhà hát to thành thị Hà Nội. Đây là 1 sự kiện có ý nghĩa béo to, ghi lại sự trưởng thành của GCCN, phong trào người lao động và tổ chức Công đoàn Việt Nam.
Ngày 19/12/1946, hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tiếp diễn chỉ huy người lao động tiến hành nhiệm vụ xây dựng các cơ sở sản xuất vũ khí. Công đoàn Việt Nam đã cổ vũ người lao động, nhân viên cùng lực lượng vũ trang tham dự kháng chiến chống Pháp. Chỉ trong mấy ngày đầu, hơn 3.230 người lao động ở nhiều địa phương và các đơn vị quản lý đã tham dự chuyên chở gần 7 ngàn tấn máy móc tới nơi an toàn.
Sau Chiến thắng Việt Bắc thu – đông 5 1947, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chuyển sang quá trình mới, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã phối hợp với Bộ Quốc phòng di chuyển, tổ chức phong trào thi đua sản xuất vũ khí. 5 1948, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phát động phong trào “Tăng gia tư xuất vũ khí”, “Tăng gia tư xuất, tự túc ăn mặc”, hưởng ứng phong trào “Thi đua hăng hái cầm cự, sẵn sàng tổng phản công” trong người lao động quân giới. Ngày 20/7/1949, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phát động phong trào thi đua “Hăng hái sẵn sàng tổng phản công” nhằm cổ vũ toàn bộ người lao động kết thúc nhiệm vụ, chuyên dụng cho tranh đấu. Được sự tổ chức, cổ vũ kịp thời của các ngành Công đoàn, 5 1950, người lao động đã sản xuất được trên 350 ngàn nông cụ các loại, 200 máy bơm nước, 40 xe đạp nước cung ứng cho nông nghiệp. Tính tới tháng 11/1950, CNLĐ vùng tự do đã quyên góp, ủng hộ cho Nhà nước 1.076.000 đồng. Ủng hộ quần chúng vùng bị nạn và quân nhân 16.000 bộ áo quần, 6.000 chiếc 3 lô, 1.200 áo trấn giữ…Cộng với việc tăng cường phong trào thi đua sản xuất, Công đoàn các ngành còn coi trọng việc di chuyển tăng gia cải thiện đời sống, làm tốt công việc văn hóa, giáo dục, tăng lên trình độ mọi mặt cho CNVCLĐ. Trong vùng địch tạm chiếm, Công đoàn đã bám lấy cơ sở, tuyên truyền tỉnh ngộ người lao động, lao động, xây dựng và tăng trưởng tổ chức Công đoàn, tăng cường chiến đấu kinh tế, chính trị, góp phần làm suy yếu địch.
Giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã hăng hái di chuyển GCCN cộng với giai cấp dân cày (GCND) xây dựng được khối liên minh công nông kiên cố, làm cốt cán xây dựng và củng cố chính quyền quần chúng. Công đoàn Việt Nam đã góp phần hăng hái vào thắng lợi Điện Biên Phủ lẫy lừng 5 châu, chấn động địa cầu, chấm dứt vang dội 9 5 kháng chiến chống thực dân Pháp đầy hy sinh, khó khăn và quả cảm của dân tộc Việt Nam.
4. Phong trào người lao động và hoạt động Công đoàn trong những 5 xây dựng CNXH, chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1954 – 1975)
Sau thắng lợi Điện Biên Phủ, Việt Nam tạm bợ bị phân thành 2 miền, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng và bắt tay vào công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội (CNXH), miền Nam còn dưới giai cấp thống trị của đế quốc Mỹ.
Phục vụ đề nghị của tình hình mới, Hội nghị Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (khóa I) họp vào tháng 8/1954 đã xác định nhiệm vụ trọng điểm là “Cần phải cổ vũ, tổ chức số đông nhân dân lao động trong các đô thành phố 1 lực lượng mạnh bạo làm chỗ dựa tốt nhất, cứng cáp nhất cho chính quyền thực hiện công việc tiếp nhận, bình phục sản xuất, gìn giữ an ninh, thứ tự thành thị”.
Ở miền Bắc thực hiện công cuộc tái thiết quốc gia, gieo neo tiếp diễn đặt lên vai người người lao động. Với bổn phận chủ sở hữu của quốc gia, hàng ngũ CNVCLĐ đã tăng cường sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống phí phạm. Nhờ vậy chỉ chỉ cần khoảng ngắn hoạt động sản xuất tại các cơ sở công nghiệp đã bình phục. Qua tiến hành kế hoạch 5 5 lần thứ nhất, những tiêu biểu trong phong trào thi đua yêu nước của GCCN được lan tỏa, như “Sóng Duyên Hải”, “Cộng tác xã Thành Công”, “Ba cố gắng”…đã hiện ra nhiều CNVCLĐ điển hình được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, là những tấm gương sáng trong học tập, lao động sản xuất và tranh đấu.
Ở miền Nam, phong trào người lao động, Công đoàn hoạt động trong điều kiện cực kỳ gieo neo, đế quốc Mỹ và bè đảng tay sai Ngô Đình Diệm ra công khủng bố, đàn áp. Các cấp công nghiệp, thủ công nghiệp bị đình đốn, đời sống của CNVCLĐ gieo neo. Trước tình hình đấy, Đảng đã chỉ huy các cơ sở trong nội đô, trong các đồn điền phải tìm mọi cách bám đất, bám dân tăng trưởng lực lượng, tổ chức cho người lao động chiến đấu.
Ngày 5/11/1957, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký Sắc lệnh số 108-SL/L10 về ban hành Luật Công đoàn đã tạo cơ sở pháp lý, tăng lên địa điểm của tổ chức Công đoàn, củng cố vai trò chỉ đạo của GCCN trong tình hình mới. Thắng lợi của công cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và bước đầu tăng trưởng kinh tế, văn hóa đã tạo ra những tiền đề quan trọng góp phần xây dựng và đưa miền Bắc tiến dần lên CNXH, cùng lúc chiến đấu tiến hành hợp nhất giang san, thành tựu đấy có đóng góp quan trọng của GCCN và tổ chức Công đoàn Việt Nam.
Trước những đề nghị mới, Đại hội lần thứ II Công đoàn Việt Nam được diễn ra tại Hà Nội từ ngày 23-27/2/1961 đã quyết định đổi tên “Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam” thành “Tổng Công đoàn Việt Nam”. Tiêu chí của Đại hội là “Các ngành Công đoàn phải phát động phong trào thi đua lao động sản xuất, cần kiệm xây dựng CNXH với năng suất lao động, hiệu quả công việc, chuyên dụng cho và tham dự tranh đấu, cố gắng giải phóng miền Nam, hợp nhất quốc gia”.
Tổng Công đoàn Việt Nam tham dự xây dựng 1 số cơ chế, chế độ bổ sung và sửa đổi về lao động, tiền công, tiền thưởng. Liên hiệp Công đoàn các tỉnh, thành thị đã ký kết Nghị quyết liên tịch với cơ quan chính quyền đồng cấp về việc tổ chức tiến hành các cơ chế, chế độ đối với người lao động nhân viên lao động (CNVCLĐ). Nhiều công đoàn cơ sở đã kịp thời cổ vũ CNVCLĐ thi đua lao động, sản xuất, cố gắng kết thúc kế hoạch được giao. Việc tiến hành luật lệ an toàn lao động, vệ sinh công nghiệp được tiến hành tốt hơn, cải thiện điều kiện làm việc cho CNVCLĐ.
5 1965 Liên hiệp Công đoàn giải phóng miền Nam được thành lập đã ko dừng củng cố và tăng trưởng, vừa tổ chức cho CNVCLĐ các thành thị chiến đấu, vừa cổ vũ CNVCLĐ vùng giải phóng tăng cường sản xuất chuyên dụng cho tranh đấu. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu thân 1968 và Chiến dịch Hồ Chí Minh, Công đoàn giải phóng đã di chuyển CNVCLĐ ở các đô thị nhất loạt nổi dậy, phối hợp với lực lượng vũ trang xoá sổ địch, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân giải phóng hoàn toàn miền Nam, hợp nhất Non sông.
5. Phong trào người lao động và hoạt động Công đoàn trong những 5 cả nước hợp nhất đi lên chủ nghĩa xã hội (1975 – 1986)
Đầu 5 1976, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có mặt trên thị trường, đã tạo điều kiện căn bản để hợp nhất tổ chức Công đoàn trên khuôn khổ cả nước.
Thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, từ tháng 01/1976 Tổng Công đoàn Việt Nam và Liên hiệp Công đoàn giải phóng miền Nam bắt tay vào sẵn sàng các điều kiện cho việc hợp nhất tổ chức Công đoàn của GCCN Việt Nam. Ngày 6/6/1976, Hội nghị Công đoàn toàn quốc được diễn ra tại thành thị Hồ Chí Minh đã quyết định hợp nhất Công đoàn 2 miền Nam, Bắc thành “Tổng Công đoàn Việt Nam”.
Những 5 1981-1982, Công đoàn đã thực hiện nhiều đợt tuyên truyền sâu rộng trong người lao động, nhân viên về tình hình và nhiệm vụ của quốc gia, về chủ trương, chế độ, nhất là các chế độ kinh tế của Đảng và Nhà nước. Đi đôi với giáo dục chính trị, Công đoàn đã có nhiều phấn đấu trong việc duy trì phong trào học bổ túc văn hoá, kỹ thuật, nghiệp vụ; tăng cường các hoạt động văn hoá, văn nghệ nhân dân, thể dục thể thao; công việc tạp chí, xuất bản của Công đoàn đã có những văn minh mới.
Đại hội lần thứ V Công đoàn Việt Nam thực hiện từ ngày 16-18/11/1983 đã khẳng định chỉ tiêu: “Cổ vũ người lao động, lao động tiến hành 3 chương trình kinh tế to của Đảng, là tăng trưởng nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu”, Đại hội đã Quyết định lấy ngày 28/7/1929 là Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam.
Các phong trào thi đua lao động sản xuất, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trong CNVCLĐ đã tạo được bước chuyển biến hăng hái, nhiều tiêu biểu đương đại và yếu tố mới đã tạo nên, góp phần béo to vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Non sông. Công việc tăng trưởng sum họp được Công đoàn chú trọng, số sum họp và Công đoàn cơ sở càng ngày càng nâng cao. Kế bên đấy, Công đoàn còn tham dự vào lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động, đề xuất Nhà nước bổ sung phụ cấp ốm đau, thai sản, tại nạn lao động, trợ cấp gieo neo…Các cơ chế ngơi nghỉ, thăm quan du hý và các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao được duy trì, tăng trưởng.
Trong 10 5 đầu xây dựng quốc gia theo tuyến đường xã hội chủ nghĩa (1975 – 1985), Công đoàn đã phối hợp với chính phủ tìm cách tháo gỡ gieo neo trong sản xuất và đời sống, tham dự với xí nghiệp, nhà máy tiến hành Chỉ thị 25/CP và 26/CP của Hội đồng Chính phủ về sản xuất và hỗ trợ các đơn vị quản lý sản xuất công nghiệp; phát động phong trào thi đua tăng lên năng suất, chất lượng, hiệu quả trong sản xuất; tuyên truyền, giáo dục CNVCLĐ các hiện tượng thụ động, tiến hành nghiêm pháp luật, chế độ của Nhà nước; tiến hành tốt chủ trương tăng trưởng 1 số ngành công nghiệp nặng quan trọng chuyên dụng cho tăng trưởng nông nghiệp, tăng trưởng sản xuất hàng tiêu dùng chuyên dụng cho đời sống quần chúng, tìm các giải pháp chăm lo đời sống CNVC.
Kỷ niệm 55 5 Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929 – 8/7/1984), Nhà nước đã tặng Tổng Công đoàn Việt Nam Huân chương Sao Vàng – Huân chương cao quý nhất của Nhà nước Việt Nam.
6. Phong trào người lao động và hoạt động Công đoàn trong tiến hành đường lối đổi mới của Đảng (1986 – 2021)
Quốc gia hòa bình, hợp nhất, mà hậu quả của chiến tranh để lại rất nặng nề chưa được hàn gắn, thêm vào đấy, chiến tranh biên thuỳ Tây Nam, biên thuỳ phía Bắc đã khiến cho tình hình kinh tế, xã hội ở nước ta mất bình ổn, đời sống của CNVCLĐ và quần chúng gặp muôn ngàn gieo neo. Trong điều kiện đấy, Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) đề ra đường lối đổi mới toàn diện, thâm thúy, giải phóng mọi tiềm năng sẵn có, tăng trưởng nhiều thành phần kinh tế, mở mang kinh tế đối ngoại, tiến hành ban chương trình kinh tế. Tháng 10/1988, Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ VII quyết định đổi tên“Tổng Công đoàn Việt Nam”thành“Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam”.
Qua 35 5 đổi mới, hơn 12 5 tiến hành Nghị quyết Trung ương 6 (khóa X), GCCN Việt Nam đã tăng về số lượng, trưởng thành về chất lượng và khẳng định, phát huy vai trò, địa vị của mình trong thực tế xây dựng, bảo vệ Non sông. Hiện nay, tổng số lao động làm thuê hưởng lương trong các loại hình công ty ở nước ta có khoảng 24,5 triệu người, trong đấy người lao động, lao động trong các công ty chiếm khoảng 60%, chiếm tỷ lệ khoảng 14% số dân và 27% lực lượng lao động xã hội. Trình độ học thức và trình độ chuyên môn, nghề nghiệp, chính trị của giai cấp người lao động càng ngày càng được cải thiện. Số người lao động có kiến thức, nắm vững khoa học – công nghệ đương đại đã nâng cao. Tạo nên lớp người lao động trẻ có trình độ học thức, văn hóa, được tập huấn nghề theo chuẩn nghề nghiệp, được đoàn luyện trong thực tế sản xuất tiên tiến, bí quyết làm việc càng ngày càng đương đại.
Công việc Công đoàn và phong trào người lao động đã đạt được kết quả toàn diện, phục vụ tốt hơn nhu cầu, ước muốn chính đáng của sum họp, CNVCLĐ. Công đoàn đã có những thông minh, đề nghị và tổ chức được nhiều chương trình hoạt động mới như: Chăm lo phúc lợi cho sum họp công đoàn; tổ chức “Tết Sum vầy” cho công nhân; xây dựng các thể chế công đoàn, góp phần tháo gỡ những vấn đề giận dữ về nhà ở, vườn trẻ, nơi sinh hoạt văn hoá… cho công nhân (NLĐ). Đã có nhiều giải pháp linh động, kịp thời cùng hệ thống chính trị khắc phục những vụ, việc liên can tới công việc đảm bảo an ninh, thứ tự, lợi quyền, đời sống của người lao động, nhân viên, công nhân. Tổ chức hội thoại, thương thuyết thoả ước lao động cộng đồng, góp phần đảm bảo cơ chế, chế độ và từng bước tăng lên phúc lợi, đảm bảo an sinh xã hội cho công nhân, xúc tiến tăng trưởng sản xuất kinh doanh, xây dựng quan hệ lao động hài hoà, bình ổn và văn minh. Hoạt động tuyên truyền, giáo dục tạo được sức lan toả trong hệ thống. Phong trào thi đua yêu nước trong người lao động, nhân viên, lao động có sự chuyển biến hăng hái. Tổ chức công đoàn càng ngày càng được củng cố và tăng trưởng. Công việc người lao động, công nhân đạt nhiều kết quả, số lượng sum họp đẩy mạnh so với các nhiệm kỳ trước, hiện ra nhiều bề ngoài người lao động, nhân viên, tăng trưởng sum họp, thành lập công đoàn cơ sở rộng khắp trong các công ty. Mẫu hình tổ chức bộ máy, tổ chức công đoàn đang được hoàn thiện; chất lượng hàng ngũ cán bộ công đoàn từng bước được tăng lên. Trên khắp các lĩnh vực đã hiện ra nhiều tấm gương tiêu biểu đương đại, người lao động, nhân viên, lao động tiên phong và thành công trong lao động sản xuất kinh doanh, khẳng định vai trò của tổ chức công đoàn trong hệ thống chính trị, tô thắm thêm truyền thống vang dội của Công đoàn Việt Nam.
Trong thời kì đến, công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam đứng trước cơ hội mới, thử thách mới lúc quốc gia càng ngày càng hội nhập quốc tế sâu rộng; lúc Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) được tiến hành. Vì thế, tổ chức Công đoàn Việt Nam cần phát huy những kết quả đã đạt được, tiến hành tốt tác dụng đại diện, bảo vệ quyền và ích lợi hợp lí, chính đáng của NLĐ, trong đấy tập hợp vào các nhiệm vụ, biện pháp sau:
1 là, tập hợp tuyên truyền, di chuyển cán bộ, sum họp, CNVCLĐ tiến hành Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; Nghị quyết Hội nghị TƯ 6 (khóa X) về tiếp diễn xây dựng giai cấp người lao động Việt Nam thời đoạn tăng cường công nghiệp hoá, tiên tiến hoá quốc gia.
Hai là, chăm lo, làm tốt nhiệm vụ xây dựng giai cấp Người lao động, xứng đáng là lực lượng cốt cán, tiên phong trong sự nghiệp công nghiệp hóa, tiên tiến hóa quốc gia; chú trọng tăng lên nhận thức, khả năng chính trị, và trình độ cách mệnh của giai cấp người lao động; tập huấn cán bộ xuất thân từ người lao động.
Ba là, tăng lên chất lượng và hiệu quả hoạt động của Công đoàn trong việc tham dự với Đảng, Nhà nước hoàn thiện hệ thống chế độ, luật pháp liên can tới NLĐ; thương thuyết với người sử dụng lao động và tổ chức tốt việc ký kết tiến hành thỏa ước lao động cộng đồng, khắc phục tốt các mâu thuẫn lao động, bảo vệ quyền và ích lợi hợp lí, chính đáng cho NLĐ.
4 là, chủ động phối hợp với chính quyền phát động sâu rộng và tổ chức tốt các phong trào thi đua yêu nước; cổ vũ số đông CNVC và NLĐ phát huy quyền làm chủ quốc gia, tiên phong trong các phong trào thi đua tăng trưởng kinh tế xã hội.
5 là, xây dựng bộ máy tổ chức tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, góp phần xây dựng giai cấp người lao động, tổ chức Công đoàn lớn mạnh, tham dự xây dựng Đảng, Nhà nước trong lành, lớn mạnh.
Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin có lợi khác trên phân mục Tài liệu của Happy Home VN.

[rule_2_plain] [rule_3_plain]

#Đề #cương #tuyên #truyền #kỷ #niệm #Ngày #Quốc #tế #Lao #động

Bài tuyên truyền kỷ niệm ngày 1-5

Nhân kỷ niệm 135 5 Ngày Quốc tế Lao động (1/5/1886 – 1/5/2021), Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam biên soạn Đề cương tuyên truyền kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1/5. Hoatieu xin trân trọng giới thiệu toàn văn bản Chỉ dẫn.

  • Chỉ dẫn tuyên truyền cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng quần chúng các ngành nhiệm kỳ 2021 – 2026
  • Top 4 bài bài tuyên truyền về an toàn giao thông hay tuyển lựa

I. LỊCH SỬ, Ý NGHĨA NGÀY QUỐC TẾ LAO ĐỘNG 1/5 VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG HƯỞNG ỨNG TẠI VIỆT NAM

1. Lịch sử và ý nghĩa Ngày Quốc tế Lao động 1/5

Từ nửa cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản bước sang quá trình độc quyền, sản xuất công nghiệp đẩy mạnh; ở 1 số nước như Anh, Pháp, Đức, Mỹ…tăng trưởng mạnh bạo. Cộng với những bước tiến của nền kinh tế tư bản, giai cấp tư sản đẩy mạnh bóc lột và bần hàn hóa người lao động lao động; tranh chấp giai cấp càng ngày càng thâm thúy, dẫn tới nhiều cuộc chiến đấu giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản diễn ra với quy mô càng ngày càng to.

Trong cuộc chiến đấu đấy, vấn đề thời gian khó động có ý nghĩa quan trọng. Ngay sau lúc thành lập Quốc tế I 5 1864, C.Mác coi việc rút ngắn thời gian khó động là 1 nhiệm vụ chiến đấu của giai cấp vô sản. Tại Đại hội lần thứ nhất của Quốc tế I họp tại Gieneve (Thụy Sĩ) tháng 9/1866, vấn đề chiến đấu đòi ngày làm việc 8 giờ được coi là nhiệm vụ quan trọng. Khẩu hiệu “Ngày làm 8 giờ” sớm hiện ra ở 1 số nơi của nước Anh – nước có nền công nghiệp tăng trưởng sớm nhất toàn cầu. Yêu sách này dần lan sang các nước khác.

Nước Mỹ, từ 1 non sông có nền kinh tế lỗi thời, lệ thuộc vào châu Âu, đã mở mang sản suất, mau chóng tăng trưởng biến thành nước công nghiệp bậc nhất toàn cầu. Thành phố Chi-ca-gô biến thành trung tâm thương mại của Mỹ. Nước Mỹ dấn thân cuộc chạy đua cạnh tranh tư bản quyết liệt. Các guồng máy chạy hết công suất suốt ngày đêm, hàng vạn người lao động bị buộc phải làm việc mỗi ngày từ 14 – 18 giờ, đàn bà vần vật lao động ko kém gì nam giới, mà đồng lương chỉ bằng 1/2 nam giới và suốt tuần ko có ngày nghỉ; trẻ con phải làm việc 12 giờ/ngày.

Ngày 1/5/1886, tại thành thị Chi-ca-gô (Mỹ), hưởng ứng lời kêu gọi của “Liên đoàn lao động Mỹ”, hàng chục nghìn người lao động toàn thành thị thực hiện đình công, tổ chức mít tinh và biểu tình trên đường phố (40 ngày ko tới nhà máy làm việc). Khẩu hiệu “Ngày làm việc 8 giờ” biến thành tiếng khái quát của giai cấp người lao động, chính quyền tư sản rơi vào thế thụ động. Cuộc chiến đấu vì chỉ tiêu dân sinh, dân chủ, vì sự văn minh xã hội bị đàn áp đẫm máu, song đã tạo được sự hưởng ứng, ủng hộ mạnh bạo của người lao động khắp nước Mỹ lên tiếng ủng hộ yêu sách của người lao động Chi-ca-gô. Người lao động Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Hà Lan…tổ chức nhiều cuộc mít tinh bộc bạch sự nhất trí với người lao động Mỹ.

Để ghi nhận những thành tựu của phong trào người lao động các nước, ngay trong Đại hội thành lập Quốc tế thứ II, được triệu tập ngày 14/7/1889, các đại biểu của giai cấp người lao động đã phê duyệt Nghị quyết lấy ngày 1/5 làm ngày kết đoàn chiến đấu của người lao động lao động trên toàn toàn cầu. Từ đấy ngày 1/5 biến thành ngày Quốc tế Lao động.

Thực hiện Nghị quyết của Quốc tế thứ II, ngày 1/5/1890 lần trước hết, Ngày Quốc tế Lao động được kỷ niệm với quy mô toàn cầu. Người lao động ở các nước Mỹ, Canada, Pháp, Đức, Áo, Đan Mạch, Bỉ, Thụy Điển, Hà Lan, Ý và nhiều nước khác thực hiện đình công, mít tinh, xuống đường biểu tình mang theo biểu ngữ “Ngày làm 8 giờ”, “Vô sản tất cả quốc gia kết đoàn lại”.

Ngày Quốc tế Lao động 1/5 đã biến thành ngày Lễ tại nhiều non sông trên toàn cầu, dành để suy tôn lao động và gây dựng kết đoàn lao động trên toàn cầu; là ngày hội của giai cấp người lao động và quần chúng lao động trên toàn toàn cầu, ngày kết đoàn giai cấp người lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn cầu trong cuộc chiến đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và văn minh xã hội.

2. Hoạt động hưởng ứng Ngày Quốc tế Lao động 1/5 tại Việt Nam

Từ những 5 đầu của thế kỷ XX, đồng đội Nguyễn Ái Quốc (Chủ tịch Hồ Chí Minh) đã quảng bá chủ nghĩa Mác – Lê nin vào Việt Nam, giúp người lao động lao động (CNLĐ) Việt Nam thông suốt phong trào cộng sản, người lao động, công đoàn toàn cầu, nhất là về Cách mệnh Tháng Mười Nga và Ngày Quốc tế Lao động 1/5. Ngày 1/5/1925, người lao động Chợ Mập, người lao động đường sắt Dĩ An và người lao động Đà Nẵng biểu tình bộc bạch ý chí bảo vệ Liên bang Xô – Viết.

Tháng 2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam có mặt trên thị trường. Ngay trong Cương lĩnh trước hết, Đảng xác định vai trò, sứ mạng lịch sử của giai cấp người lao động (GCCN) Việt Nam là giai cấp chỉ đạo cách mệnh, cốt cán trong khối liên minh công – nông. Phong trào chiến đấu ngày 1/5/1930 đã mở màn cho cao trào cách mệnh 1930 – 1931. Lần trước hết dưới sự chỉ đạo của Đảng và chỉ dẫn, di chuyển của Công hội đỏ, người lao động cùng dân cày mít tinh biểu tình kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1/5, chiến đấu đòi lợi quyền, bộc bạch tình kết đoàn với CNLĐ toàn cầu.

Ngày 18/2/1946, Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh số 22c quy định ngày 1/5 là 1 trong những ngày lễ chính thức của nước ta. Ngày 29/4/1946, Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh số 56 quy định người lao động được lợi lương ngày nghỉ lễ Quốc tế Lao động 1/5. Ngày 1/5/1946, lần trước hết trong lịch sử nước ta, Ngày Quốc tế Lao động 1/5 được diễn ra kỷ niệm trọng thể tại Hà Nội, với sự tham gia của 20 vạn quần chúng lao động. Từ đấy, Ngày Quốc tế Lao động (1/5) hằng 5 là 1 trong những ngày lễ to của quốc gia, ngày hội của GCCN và quần chúng lao động Việt Nam.

Ngày 1/5/1951, trong lời kêu gọi nhân ngày Quốc tế Lao động, Bác Hồ xác định “Trọng tâm thi đua là: Quân đội thi đua giết thịt giặc lập công. Người lao động thi đua tăng gia tư xuất. Dân cày thi đua sản xuất lương thực. Trí thức thi đua sáng tác, phát minh. Cán bộ thi đua cần, kiệm, liêm, chính. Toàn dân thi đua hăng hái tham dự kháng chiến”. Ngày 1/5/1958, Bác đưa ra “Lời kêu gọi nhân Ngày Quốc tế Lao động” khẳng định: “Bữa nay, cộng với quần chúng lao động toàn toàn cầu, chúng ta nhiệt thành chào mừng Ngày 1/5 trong lòng đầy tin cậy và phấn chấn cố gắng vượt mọi gieo neo, tiến lên làm tròn những nhiệm vụ mới…”. Ngày 1/5/1964, nhân Ngày Quốc tế Lao động, Bác gửi điện khen ngợi thanh niên trên công trường khôi phục đường sắt Thanh Hoá – Vinh, trong đấy có việc xây lại Cầu Hàm Rồng.

Bắt đầu từ sau 5 1975, kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1/5 ở Việt Nam càng ngày càng có ý nghĩa lúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kỷ niệm Ngày Chiến thắng 30/4. Đây là dịp giai cấp người lao động và quần chúng lao động cả nước ôn lại truyền thống chiến đấu chống ngoại xâm; sôi nổi hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước để bộc bạch lòng hoài tưởng, hàm ơn thâm thúy với Chủ tịch Hồ Chí Minh – lãnh tụ lớn lao của dân tộc ta. Người đã có công huân rất béo to giúp quần chúng ta tinh thần được ý nghĩa lịch sử và ảnh hưởng của việc kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1/5, từ đấy càng thêm cố gắng đi theo tuyến đường cách mệnh do Đảng và Bác mến yêu đã tuyển lựa, xây dựng và bảo vệ kiên cố Non sông Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

II. ĐÓNG GÓP CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN, TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ CÁCH MẠNG

1. Sự có mặt trên thị trường của tổ chức Công đoàn Việt Nam (28/7/1929)

5 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công xâm lăng Việt Nam, ghi lại bằng sự kiện đổ quân lên bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng). Mục tiêu của chúng là chiếm Việt Nam làm thị phần tiêu thụ hàng hóa, khai thác khoáng sản và bóc lột nhân lực rẻ mạt; chiếm Việt Nam làm căn cứ quân sự của Pháp tại vùng Đông Nam Á.

GCCN Việt Nam có mặt trên thị trường trong công đoạn khai thác thực dân địa của thực dân Pháp, tính tới 5 1929, tổng số người lao động làm việc trong các công ty tư bản Pháp là hơn 22 vạn người, trong đấy 5,3 vạn thợ mỏ; 8,6 vạn người lao động các đơn vị quản lý công, thương mại; 8,1 vạn người lao động các đồn điền.

Có áp bức, có chiến đấu. Bị thực dân Pháp bóc lột nặng nề, người lao động Việt Nam đã chiến đấu chống lại. Tuy nhiên, phần to các cuộc chiến đấu thời đoạn này vẫn còn rải rác và mang tính tự phát, thiếu tổ chức và chỉ đạo.

Ngày 28/7/1929, theo quyết định của Đông Dương Cộng sản Đảng, Nguyễn Đức Cảnh triệu tập hội nghị đại biểu Công hội đỏ Bắc Kỳ lần thứ nhất, họp tại ngôi nhà số 15 Hàng Nón, Hà Nội. Hội nghị đồng tình phê duyệt chương trình, điều lệ và phương hướng hoạt động, bầu Ban Chấp hành lâm thời do Nguyễn Đức Cảnh đảm trách.

Ngày 3/2/1930, Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Đảng, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, lực lượng cốt cán là hội viên Công hội đỏ Bắc Kỳ.

2. Phong trào người lao động và hoạt động Công hội đỏ trong những 5 (1930 – 1945)

Đầu 5 1929, cuộc khủng hoảng kinh tế các nước tư bản đã tác động trực tiếp tới nước Pháp. Chính quyền thực dân địa trút mọi hậu quả lên đầu quần chúng Việt Nam. Đời sống của GCCN vốn đã gieo neo, lại càng gieo neo thêm. Trước tình hình đấy, Công hội đỏ đã chỉ đạo người lao động lao động chiến đấu trong cao trào cách mệnh 1930 – 1931, với trận ra quân trước hết của người lao động Nhà máy Xe lửa Tràng Thi (Hà Nội), Nhà máy cưa, Nhà máy Diêm Bến Thủy (TP. Vinh – Nghệ An) đúng vào ngày 01/5/1930. Phong trào cách mệnh dâng cao, bộ máy chính quyền của đế quốc và phong kiến ở nhiều vùng nông thôn bị tan rã hoặc tê liệt, tổ chức Nông hội đỏ điều hành, quản lý mọi hoạt động trong làng xã. Lần trước hết tại Việt Nam, đã hiện ra 1 bề ngoài chính quyền mới, chính quyền của những công nhân – chính quyền Xô viết Nghệ Tĩnh. Xô viết Nghệ Tĩnh để lại cho GCCN những bài học quý giá về giành và xây dựng chính quyền cách mệnh công nông.

Những 5 1932 – 1935, phong trào cách mệnh của GCCN Việt Nam bị thực dân Pháp đàn áp man rợ, phần đông số cán bộ Đảng và Công hội đỏ đều bị địch bắt, làm cho mối liên lạc giữa Đảng và nhân dân, giữa Công hội đỏ và phong trào người lao động tưởng như bị đứt đoạn. Thêm vào đấy, hiện trạng khủng hoảng kinh tế vẫn rất trầm trọng và kéo dài, khiến cho 8 vạn người thất nghiệp, hoàn cảnh GCCN càng thêm điêu đứng, đau khổ. Nhờ sự lỗ lực bền chí của cán bộ, hội viên và niềm nở cách mệnh của GCCN, phong trào cách mệnh trong cả nước khởi đầu bình phục.

Từ 1936 – 1939, là thời đoạn di chuyển cách mệnh sôi nổi và chiến thắng chưa từng thấy dưới thời Pháp cai trị, nhằm đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình của GCCN Việt Nam. Hàng trăm cuộc đình công của người lao động do các hội Ái hữu tổ chức đã dành được chiến thắng, buộc chính quyền thực dân phải ban hành nhiều thông tư, nghị định hứu khắc phục các đề nghị thiết thực của người lao động như tăng lương, giảm giờ làm từ 10 giờ/ngày xuống 8 giờ/ngày bắt đầu từ ngày 1/1/1938 và đảm bảo nhiều quyền tự do dân chủ khác. Tiêu biểu là cuộc đình công của 3 vạn người lao động khu mỏ than Hòn Gai (11/1936); người lao động xe lửa tuyến Vinh – Dĩ An (1937); cuộc biểu dương lực lượng của 3 vạn người lao động, lao động Hà Nội trong ngày 1/5/1938.

Ngày 01/9/1939, chiến tranh toàn cầu lần thứ 2 khởi đầu đưa nhân loại vào 1 thảm họa mới. Lợi dụng tình thế chiến tranh, các đề quốc Anh, Pháp, càng thẳng tay bóp nghẹt phong trào dân chủ trong nước và tiến hành chế độ khắc nghiệt đối với các nước thực dân địa. Ngày 28/9/1939, toàn quyền Đông Dương ra nghị định cấm mọi hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp tuyên truyền cộng sản, lưu hành, tích trữ mọi tài liệu của cộng sản, giải thể các hội Ái hữu, Nghiệp đoàn.

Tháng 5/1941, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 đã quyết định chuyển hướng chỉ huy chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên bậc nhất. Chiến trường Việt Minh được thành lập, các hội nhân dân biến thành hội cứu quốc. Dù rằng bị địch đàn áp man rợ, mà với ý thức cách mệnh, GCCN và Hội người lao động cứu quốc vẫn tăng trưởng phong trào trên các địa bàn xung yếu (Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Hòn Gai, Sài Gòn…).

Từ tháng 5/1945, GCCN tham dự phong trào chiến đấu chính trị liên kết chiến đấu vũ trang, khởi nghĩa từng phần, thành lập chính quyền cách mệnh của quần chúng. Để đẩy mạnh cung ứng vũ khí cho cách mệnh, hội viên người lao động cứu quốc ở nhiều xí nghiệp đã lấy nguyên nguyên liệu của nhà máy để chế tác vũ khí, trang bị cho các tổ tự vệ tranh đấu.

Ngày 2/9/1945, dưới sự chỉ đạo minh mẫn, cương quyết của Đảng, đứng đầu Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, GCCN đã biến thành lực lượng cốt cán, cộng với quần chúng cả nước đứng lên dành chính quyền, làm nên cuộc Cách mệnh tháng 8 thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước Công nông trước hết ở Đông Nam Á.

3. Phong trào người lao động và hoạt động Công đoàn trong thời đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954)

Sau Cách mệnh tháng 8, quốc gia ta gặp muôn ngàn gieo neo, vừa tăng trưởng kinh tế, xã hội, vừa chống giặc ngoại xâm. Người lao động đã tham dự tranh đấu bảo vệ cơ sở sản xuất của chính quyền cách mệnh, tham dự đình công, bãi thị và tiến công phá hoại các cơ sở kinh tế quan trọng của thực dân Pháp trên khu vực.

Để hợp nhất về tổ chức trên khuôn khổ cả nước, 20/6/1946, tại số nhà 51 Hàng Bồ (Hà Nội), Hội nghị cán bộ cứu quốc được triệu tập. Tại Hội nghị này, Hội người lao động cứu quốc được đổi thành “Công đoàn” và quyết định thành lập Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Ngày 20/7/1946, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tuyên bố chính thức được thành lập và trọng thể ra mắt nhân dân lao động trong cả nước tại Nhà hát to thành thị Hà Nội. Đây là 1 sự kiện có ý nghĩa béo to, ghi lại sự trưởng thành của GCCN, phong trào người lao động và tổ chức Công đoàn Việt Nam.

Ngày 19/12/1946, hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tiếp diễn chỉ huy người lao động tiến hành nhiệm vụ xây dựng các cơ sở sản xuất vũ khí. Công đoàn Việt Nam đã cổ vũ người lao động, nhân viên cùng lực lượng vũ trang tham dự kháng chiến chống Pháp. Chỉ trong mấy ngày đầu, hơn 3.230 người lao động ở nhiều địa phương và các đơn vị quản lý đã tham dự chuyên chở gần 7 ngàn tấn máy móc tới nơi an toàn.

Sau Chiến thắng Việt Bắc thu – đông 5 1947, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chuyển sang quá trình mới, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã phối hợp với Bộ Quốc phòng di chuyển, tổ chức phong trào thi đua sản xuất vũ khí. 5 1948, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phát động phong trào “Tăng gia tư xuất vũ khí”, “Tăng gia tư xuất, tự túc ăn mặc”, hưởng ứng phong trào “Thi đua hăng hái cầm cự, sẵn sàng tổng phản công” trong người lao động quân giới. Ngày 20/7/1949, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phát động phong trào thi đua “Hăng hái sẵn sàng tổng phản công” nhằm cổ vũ toàn bộ người lao động kết thúc nhiệm vụ, chuyên dụng cho tranh đấu. Được sự tổ chức, cổ vũ kịp thời của các ngành Công đoàn, 5 1950, người lao động đã sản xuất được trên 350 ngàn nông cụ các loại, 200 máy bơm nước, 40 xe đạp nước cung ứng cho nông nghiệp. Tính tới tháng 11/1950, CNLĐ vùng tự do đã quyên góp, ủng hộ cho Nhà nước 1.076.000 đồng. Ủng hộ quần chúng vùng bị nạn và quân nhân 16.000 bộ áo quần, 6.000 chiếc 3 lô, 1.200 áo trấn giữ…Cộng với việc tăng cường phong trào thi đua sản xuất, Công đoàn các ngành còn coi trọng việc di chuyển tăng gia cải thiện đời sống, làm tốt công việc văn hóa, giáo dục, tăng lên trình độ mọi mặt cho CNVCLĐ. Trong vùng địch tạm chiếm, Công đoàn đã bám lấy cơ sở, tuyên truyền tỉnh ngộ người lao động, lao động, xây dựng và tăng trưởng tổ chức Công đoàn, tăng cường chiến đấu kinh tế, chính trị, góp phần làm suy yếu địch.

Giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã hăng hái di chuyển GCCN cộng với giai cấp dân cày (GCND) xây dựng được khối liên minh công nông kiên cố, làm cốt cán xây dựng và củng cố chính quyền quần chúng. Công đoàn Việt Nam đã góp phần hăng hái vào thắng lợi Điện Biên Phủ lẫy lừng 5 châu, chấn động địa cầu, chấm dứt vang dội 9 5 kháng chiến chống thực dân Pháp đầy hy sinh, khó khăn và quả cảm của dân tộc Việt Nam.

4. Phong trào người lao động và hoạt động Công đoàn trong những 5 xây dựng CNXH, chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1954 – 1975)

Sau thắng lợi Điện Biên Phủ, Việt Nam tạm bợ bị phân thành 2 miền, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng và bắt tay vào công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội (CNXH), miền Nam còn dưới giai cấp thống trị của đế quốc Mỹ.

Phục vụ đề nghị của tình hình mới, Hội nghị Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (khóa I) họp vào tháng 8/1954 đã xác định nhiệm vụ trọng điểm là “Cần phải cổ vũ, tổ chức số đông nhân dân lao động trong các đô thành phố 1 lực lượng mạnh bạo làm chỗ dựa tốt nhất, cứng cáp nhất cho chính quyền thực hiện công việc tiếp nhận, bình phục sản xuất, gìn giữ an ninh, thứ tự thành thị”.

Ở miền Bắc thực hiện công cuộc tái thiết quốc gia, gieo neo tiếp diễn đặt lên vai người người lao động. Với bổn phận chủ sở hữu của quốc gia, hàng ngũ CNVCLĐ đã tăng cường sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống phí phạm. Nhờ vậy chỉ chỉ cần khoảng ngắn hoạt động sản xuất tại các cơ sở công nghiệp đã bình phục. Qua tiến hành kế hoạch 5 5 lần thứ nhất, những tiêu biểu trong phong trào thi đua yêu nước của GCCN được lan tỏa, như “Sóng Duyên Hải”, “Cộng tác xã Thành Công”, “Ba cố gắng”…đã hiện ra nhiều CNVCLĐ điển hình được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, là những tấm gương sáng trong học tập, lao động sản xuất và tranh đấu.

Ở miền Nam, phong trào người lao động, Công đoàn hoạt động trong điều kiện cực kỳ gieo neo, đế quốc Mỹ và bè đảng tay sai Ngô Đình Diệm ra công khủng bố, đàn áp. Các cấp công nghiệp, thủ công nghiệp bị đình đốn, đời sống của CNVCLĐ gieo neo. Trước tình hình đấy, Đảng đã chỉ huy các cơ sở trong nội đô, trong các đồn điền phải tìm mọi cách bám đất, bám dân tăng trưởng lực lượng, tổ chức cho người lao động chiến đấu.

Ngày 5/11/1957, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký Sắc lệnh số 108-SL/L10 về ban hành Luật Công đoàn đã tạo cơ sở pháp lý, tăng lên địa điểm của tổ chức Công đoàn, củng cố vai trò chỉ đạo của GCCN trong tình hình mới. Thắng lợi của công cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và bước đầu tăng trưởng kinh tế, văn hóa đã tạo ra những tiền đề quan trọng góp phần xây dựng và đưa miền Bắc tiến dần lên CNXH, cùng lúc chiến đấu tiến hành hợp nhất giang san, thành tựu đấy có đóng góp quan trọng của GCCN và tổ chức Công đoàn Việt Nam.

Trước những đề nghị mới, Đại hội lần thứ II Công đoàn Việt Nam được diễn ra tại Hà Nội từ ngày 23-27/2/1961 đã quyết định đổi tên “Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam” thành “Tổng Công đoàn Việt Nam”. Tiêu chí của Đại hội là “Các ngành Công đoàn phải phát động phong trào thi đua lao động sản xuất, cần kiệm xây dựng CNXH với năng suất lao động, hiệu quả công việc, chuyên dụng cho và tham dự tranh đấu, cố gắng giải phóng miền Nam, hợp nhất quốc gia”.

Tổng Công đoàn Việt Nam tham dự xây dựng 1 số cơ chế, chế độ bổ sung và sửa đổi về lao động, tiền công, tiền thưởng. Liên hiệp Công đoàn các tỉnh, thành thị đã ký kết Nghị quyết liên tịch với cơ quan chính quyền đồng cấp về việc tổ chức tiến hành các cơ chế, chế độ đối với người lao động nhân viên lao động (CNVCLĐ). Nhiều công đoàn cơ sở đã kịp thời cổ vũ CNVCLĐ thi đua lao động, sản xuất, cố gắng kết thúc kế hoạch được giao. Việc tiến hành luật lệ an toàn lao động, vệ sinh công nghiệp được tiến hành tốt hơn, cải thiện điều kiện làm việc cho CNVCLĐ.

5 1965 Liên hiệp Công đoàn giải phóng miền Nam được thành lập đã ko dừng củng cố và tăng trưởng, vừa tổ chức cho CNVCLĐ các thành thị chiến đấu, vừa cổ vũ CNVCLĐ vùng giải phóng tăng cường sản xuất chuyên dụng cho tranh đấu. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu thân 1968 và Chiến dịch Hồ Chí Minh, Công đoàn giải phóng đã di chuyển CNVCLĐ ở các đô thị nhất loạt nổi dậy, phối hợp với lực lượng vũ trang xoá sổ địch, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân giải phóng hoàn toàn miền Nam, hợp nhất Non sông.

5. Phong trào người lao động và hoạt động Công đoàn trong những 5 cả nước hợp nhất đi lên chủ nghĩa xã hội (1975 – 1986)

Đầu 5 1976, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có mặt trên thị trường, đã tạo điều kiện căn bản để hợp nhất tổ chức Công đoàn trên khuôn khổ cả nước.

Thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, từ tháng 01/1976 Tổng Công đoàn Việt Nam và Liên hiệp Công đoàn giải phóng miền Nam bắt tay vào sẵn sàng các điều kiện cho việc hợp nhất tổ chức Công đoàn của GCCN Việt Nam. Ngày 6/6/1976, Hội nghị Công đoàn toàn quốc được diễn ra tại thành thị Hồ Chí Minh đã quyết định hợp nhất Công đoàn 2 miền Nam, Bắc thành “Tổng Công đoàn Việt Nam”.

Những 5 1981-1982, Công đoàn đã thực hiện nhiều đợt tuyên truyền sâu rộng trong người lao động, nhân viên về tình hình và nhiệm vụ của quốc gia, về chủ trương, chế độ, nhất là các chế độ kinh tế của Đảng và Nhà nước. Đi đôi với giáo dục chính trị, Công đoàn đã có nhiều phấn đấu trong việc duy trì phong trào học bổ túc văn hoá, kỹ thuật, nghiệp vụ; tăng cường các hoạt động văn hoá, văn nghệ nhân dân, thể dục thể thao; công việc tạp chí, xuất bản của Công đoàn đã có những văn minh mới.

Đại hội lần thứ V Công đoàn Việt Nam thực hiện từ ngày 16-18/11/1983 đã khẳng định chỉ tiêu: “Cổ vũ người lao động, lao động tiến hành 3 chương trình kinh tế to của Đảng, là tăng trưởng nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu”, Đại hội đã Quyết định lấy ngày 28/7/1929 là Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam.

Các phong trào thi đua lao động sản xuất, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trong CNVCLĐ đã tạo được bước chuyển biến hăng hái, nhiều tiêu biểu đương đại và yếu tố mới đã tạo nên, góp phần béo to vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Non sông. Công việc tăng trưởng sum họp được Công đoàn chú trọng, số sum họp và Công đoàn cơ sở càng ngày càng nâng cao. Kế bên đấy, Công đoàn còn tham dự vào lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động, đề xuất Nhà nước bổ sung phụ cấp ốm đau, thai sản, tại nạn lao động, trợ cấp gieo neo…Các cơ chế ngơi nghỉ, thăm quan du hý và các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao được duy trì, tăng trưởng.

Trong 10 5 đầu xây dựng quốc gia theo tuyến đường xã hội chủ nghĩa (1975 – 1985), Công đoàn đã phối hợp với chính phủ tìm cách tháo gỡ gieo neo trong sản xuất và đời sống, tham dự với xí nghiệp, nhà máy tiến hành Chỉ thị 25/CP và 26/CP của Hội đồng Chính phủ về sản xuất và hỗ trợ các đơn vị quản lý sản xuất công nghiệp; phát động phong trào thi đua tăng lên năng suất, chất lượng, hiệu quả trong sản xuất; tuyên truyền, giáo dục CNVCLĐ các hiện tượng thụ động, tiến hành nghiêm pháp luật, chế độ của Nhà nước; tiến hành tốt chủ trương tăng trưởng 1 số ngành công nghiệp nặng quan trọng chuyên dụng cho tăng trưởng nông nghiệp, tăng trưởng sản xuất hàng tiêu dùng chuyên dụng cho đời sống quần chúng, tìm các giải pháp chăm lo đời sống CNVC.

Kỷ niệm 55 5 Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929 – 8/7/1984), Nhà nước đã tặng Tổng Công đoàn Việt Nam Huân chương Sao Vàng – Huân chương cao quý nhất của Nhà nước Việt Nam.

6. Phong trào người lao động và hoạt động Công đoàn trong tiến hành đường lối đổi mới của Đảng (1986 – 2021)

Quốc gia hòa bình, hợp nhất, mà hậu quả của chiến tranh để lại rất nặng nề chưa được hàn gắn, thêm vào đấy, chiến tranh biên thuỳ Tây Nam, biên thuỳ phía Bắc đã khiến cho tình hình kinh tế, xã hội ở nước ta mất bình ổn, đời sống của CNVCLĐ và quần chúng gặp muôn ngàn gieo neo. Trong điều kiện đấy, Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) đề ra đường lối đổi mới toàn diện, thâm thúy, giải phóng mọi tiềm năng sẵn có, tăng trưởng nhiều thành phần kinh tế, mở mang kinh tế đối ngoại, tiến hành ban chương trình kinh tế. Tháng 10/1988, Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ VII quyết định đổi tên“Tổng Công đoàn Việt Nam”thành“Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam”.

Qua 35 5 đổi mới, hơn 12 5 tiến hành Nghị quyết Trung ương 6 (khóa X), GCCN Việt Nam đã tăng về số lượng, trưởng thành về chất lượng và khẳng định, phát huy vai trò, địa vị của mình trong thực tế xây dựng, bảo vệ Non sông. Hiện nay, tổng số lao động làm thuê hưởng lương trong các loại hình công ty ở nước ta có khoảng 24,5 triệu người, trong đấy người lao động, lao động trong các công ty chiếm khoảng 60%, chiếm tỷ lệ khoảng 14% số dân và 27% lực lượng lao động xã hội. Trình độ học thức và trình độ chuyên môn, nghề nghiệp, chính trị của giai cấp người lao động càng ngày càng được cải thiện. Số người lao động có kiến thức, nắm vững khoa học – công nghệ đương đại đã nâng cao. Tạo nên lớp người lao động trẻ có trình độ học thức, văn hóa, được tập huấn nghề theo chuẩn nghề nghiệp, được đoàn luyện trong thực tế sản xuất tiên tiến, bí quyết làm việc càng ngày càng đương đại.

Công việc Công đoàn và phong trào người lao động đã đạt được kết quả toàn diện, phục vụ tốt hơn nhu cầu, ước muốn chính đáng của sum họp, CNVCLĐ. Công đoàn đã có những thông minh, đề nghị và tổ chức được nhiều chương trình hoạt động mới như: Chăm lo phúc lợi cho sum họp công đoàn; tổ chức “Tết Sum vầy” cho công nhân; xây dựng các thể chế công đoàn, góp phần tháo gỡ những vấn đề giận dữ về nhà ở, vườn trẻ, nơi sinh hoạt văn hoá… cho công nhân (NLĐ). Đã có nhiều giải pháp linh động, kịp thời cùng hệ thống chính trị khắc phục những vụ, việc liên can tới công việc đảm bảo an ninh, thứ tự, lợi quyền, đời sống của người lao động, nhân viên, công nhân. Tổ chức hội thoại, thương thuyết thoả ước lao động cộng đồng, góp phần đảm bảo cơ chế, chế độ và từng bước tăng lên phúc lợi, đảm bảo an sinh xã hội cho công nhân, xúc tiến tăng trưởng sản xuất kinh doanh, xây dựng quan hệ lao động hài hoà, bình ổn và văn minh. Hoạt động tuyên truyền, giáo dục tạo được sức lan toả trong hệ thống. Phong trào thi đua yêu nước trong người lao động, nhân viên, lao động có sự chuyển biến hăng hái. Tổ chức công đoàn càng ngày càng được củng cố và tăng trưởng. Công việc người lao động, công nhân đạt nhiều kết quả, số lượng sum họp đẩy mạnh so với các nhiệm kỳ trước, hiện ra nhiều bề ngoài người lao động, nhân viên, tăng trưởng sum họp, thành lập công đoàn cơ sở rộng khắp trong các công ty. Mẫu hình tổ chức bộ máy, tổ chức công đoàn đang được hoàn thiện; chất lượng hàng ngũ cán bộ công đoàn từng bước được tăng lên. Trên khắp các lĩnh vực đã hiện ra nhiều tấm gương tiêu biểu đương đại, người lao động, nhân viên, lao động tiên phong và thành công trong lao động sản xuất kinh doanh, khẳng định vai trò của tổ chức công đoàn trong hệ thống chính trị, tô thắm thêm truyền thống vang dội của Công đoàn Việt Nam.

Trong thời kì đến, công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam đứng trước cơ hội mới, thử thách mới lúc quốc gia càng ngày càng hội nhập quốc tế sâu rộng; lúc Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) được tiến hành. Vì thế, tổ chức Công đoàn Việt Nam cần phát huy những kết quả đã đạt được, tiến hành tốt tác dụng đại diện, bảo vệ quyền và ích lợi hợp lí, chính đáng của NLĐ, trong đấy tập hợp vào các nhiệm vụ, biện pháp sau:

1 là, tập hợp tuyên truyền, di chuyển cán bộ, sum họp, CNVCLĐ tiến hành Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; Nghị quyết Hội nghị TƯ 6 (khóa X) về tiếp diễn xây dựng giai cấp người lao động Việt Nam thời đoạn tăng cường công nghiệp hoá, tiên tiến hoá quốc gia.

Hai là, chăm lo, làm tốt nhiệm vụ xây dựng giai cấp Người lao động, xứng đáng là lực lượng cốt cán, tiên phong trong sự nghiệp công nghiệp hóa, tiên tiến hóa quốc gia; chú trọng tăng lên nhận thức, khả năng chính trị, và trình độ cách mệnh của giai cấp người lao động; tập huấn cán bộ xuất thân từ người lao động.

Ba là, tăng lên chất lượng và hiệu quả hoạt động của Công đoàn trong việc tham dự với Đảng, Nhà nước hoàn thiện hệ thống chế độ, luật pháp liên can tới NLĐ; thương thuyết với người sử dụng lao động và tổ chức tốt việc ký kết tiến hành thỏa ước lao động cộng đồng, khắc phục tốt các mâu thuẫn lao động, bảo vệ quyền và ích lợi hợp lí, chính đáng cho NLĐ.

4 là, chủ động phối hợp với chính quyền phát động sâu rộng và tổ chức tốt các phong trào thi đua yêu nước; cổ vũ số đông CNVC và NLĐ phát huy quyền làm chủ quốc gia, tiên phong trong các phong trào thi đua tăng trưởng kinh tế xã hội.

5 là, xây dựng bộ máy tổ chức tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, góp phần xây dựng giai cấp người lao động, tổ chức Công đoàn lớn mạnh, tham dự xây dựng Đảng, Nhà nước trong lành, lớn mạnh.

Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin có lợi khác trên phân mục Tài liệu của Happy Home VN.

Xem thêm thông tin Đề cương tuyên truyền kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1/5

Đề cương tuyên truyền kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1/5

Bài tuyên truyền kỷ niệm ngày 1-5
Nhân kỷ niệm 135 5 Ngày Quốc tế Lao động (1/5/1886 – 1/5/2021), Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam biên soạn Đề cương tuyên truyền kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1/5. Hoatieu xin trân trọng giới thiệu toàn văn bản Chỉ dẫn.
Chỉ dẫn tuyên truyền cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng quần chúng các ngành nhiệm kỳ 2021 – 2026
Top 4 bài bài tuyên truyền về an toàn giao thông hay tuyển lựa
I. LỊCH SỬ, Ý NGHĨA NGÀY QUỐC TẾ LAO ĐỘNG 1/5 VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG HƯỞNG ỨNG TẠI VIỆT NAM
1. Lịch sử và ý nghĩa Ngày Quốc tế Lao động 1/5
Từ nửa cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản bước sang quá trình độc quyền, sản xuất công nghiệp đẩy mạnh; ở 1 số nước như Anh, Pháp, Đức, Mỹ…tăng trưởng mạnh bạo. Cộng với những bước tiến của nền kinh tế tư bản, giai cấp tư sản đẩy mạnh bóc lột và bần hàn hóa người lao động lao động; tranh chấp giai cấp càng ngày càng thâm thúy, dẫn tới nhiều cuộc chiến đấu giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản diễn ra với quy mô càng ngày càng to.
Trong cuộc chiến đấu đấy, vấn đề thời gian khó động có ý nghĩa quan trọng. Ngay sau lúc thành lập Quốc tế I 5 1864, C.Mác coi việc rút ngắn thời gian khó động là 1 nhiệm vụ chiến đấu của giai cấp vô sản. Tại Đại hội lần thứ nhất của Quốc tế I họp tại Gieneve (Thụy Sĩ) tháng 9/1866, vấn đề chiến đấu đòi ngày làm việc 8 giờ được coi là nhiệm vụ quan trọng. Khẩu hiệu “Ngày làm 8 giờ” sớm hiện ra ở 1 số nơi của nước Anh – nước có nền công nghiệp tăng trưởng sớm nhất toàn cầu. Yêu sách này dần lan sang các nước khác.
Nước Mỹ, từ 1 non sông có nền kinh tế lỗi thời, lệ thuộc vào châu Âu, đã mở mang sản suất, mau chóng tăng trưởng biến thành nước công nghiệp bậc nhất toàn cầu. Thành phố Chi-ca-gô biến thành trung tâm thương mại của Mỹ. Nước Mỹ dấn thân cuộc chạy đua cạnh tranh tư bản quyết liệt. Các guồng máy chạy hết công suất suốt ngày đêm, hàng vạn người lao động bị buộc phải làm việc mỗi ngày từ 14 – 18 giờ, đàn bà vần vật lao động ko kém gì nam giới, mà đồng lương chỉ bằng 1/2 nam giới và suốt tuần ko có ngày nghỉ; trẻ con phải làm việc 12 giờ/ngày.
Ngày 1/5/1886, tại thành thị Chi-ca-gô (Mỹ), hưởng ứng lời kêu gọi của “Liên đoàn lao động Mỹ”, hàng chục nghìn người lao động toàn thành thị thực hiện đình công, tổ chức mít tinh và biểu tình trên đường phố (40 ngày ko tới nhà máy làm việc). Khẩu hiệu “Ngày làm việc 8 giờ” biến thành tiếng khái quát của giai cấp người lao động, chính quyền tư sản rơi vào thế thụ động. Cuộc chiến đấu vì chỉ tiêu dân sinh, dân chủ, vì sự văn minh xã hội bị đàn áp đẫm máu, song đã tạo được sự hưởng ứng, ủng hộ mạnh bạo của người lao động khắp nước Mỹ lên tiếng ủng hộ yêu sách của người lao động Chi-ca-gô. Người lao động Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Hà Lan…tổ chức nhiều cuộc mít tinh bộc bạch sự nhất trí với người lao động Mỹ.
Để ghi nhận những thành tựu của phong trào người lao động các nước, ngay trong Đại hội thành lập Quốc tế thứ II, được triệu tập ngày 14/7/1889, các đại biểu của giai cấp người lao động đã phê duyệt Nghị quyết lấy ngày 1/5 làm ngày kết đoàn chiến đấu của người lao động lao động trên toàn toàn cầu. Từ đấy ngày 1/5 biến thành ngày Quốc tế Lao động.
Thực hiện Nghị quyết của Quốc tế thứ II, ngày 1/5/1890 lần trước hết, Ngày Quốc tế Lao động được kỷ niệm với quy mô toàn cầu. Người lao động ở các nước Mỹ, Canada, Pháp, Đức, Áo, Đan Mạch, Bỉ, Thụy Điển, Hà Lan, Ý và nhiều nước khác thực hiện đình công, mít tinh, xuống đường biểu tình mang theo biểu ngữ “Ngày làm 8 giờ”, “Vô sản tất cả quốc gia kết đoàn lại”.
Ngày Quốc tế Lao động 1/5 đã biến thành ngày Lễ tại nhiều non sông trên toàn cầu, dành để suy tôn lao động và gây dựng kết đoàn lao động trên toàn cầu; là ngày hội của giai cấp người lao động và quần chúng lao động trên toàn toàn cầu, ngày kết đoàn giai cấp người lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn cầu trong cuộc chiến đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và văn minh xã hội.
2. Hoạt động hưởng ứng Ngày Quốc tế Lao động 1/5 tại Việt Nam
Từ những 5 đầu của thế kỷ XX, đồng đội Nguyễn Ái Quốc (Chủ tịch Hồ Chí Minh) đã quảng bá chủ nghĩa Mác – Lê nin vào Việt Nam, giúp người lao động lao động (CNLĐ) Việt Nam thông suốt phong trào cộng sản, người lao động, công đoàn toàn cầu, nhất là về Cách mệnh Tháng Mười Nga và Ngày Quốc tế Lao động 1/5. Ngày 1/5/1925, người lao động Chợ Mập, người lao động đường sắt Dĩ An và người lao động Đà Nẵng biểu tình bộc bạch ý chí bảo vệ Liên bang Xô – Viết.
Tháng 2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam có mặt trên thị trường. Ngay trong Cương lĩnh trước hết, Đảng xác định vai trò, sứ mạng lịch sử của giai cấp người lao động (GCCN) Việt Nam là giai cấp chỉ đạo cách mệnh, cốt cán trong khối liên minh công – nông. Phong trào chiến đấu ngày 1/5/1930 đã mở màn cho cao trào cách mệnh 1930 – 1931. Lần trước hết dưới sự chỉ đạo của Đảng và chỉ dẫn, di chuyển của Công hội đỏ, người lao động cùng dân cày mít tinh biểu tình kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1/5, chiến đấu đòi lợi quyền, bộc bạch tình kết đoàn với CNLĐ toàn cầu.
Ngày 18/2/1946, Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh số 22c quy định ngày 1/5 là 1 trong những ngày lễ chính thức của nước ta. Ngày 29/4/1946, Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh số 56 quy định người lao động được lợi lương ngày nghỉ lễ Quốc tế Lao động 1/5. Ngày 1/5/1946, lần trước hết trong lịch sử nước ta, Ngày Quốc tế Lao động 1/5 được diễn ra kỷ niệm trọng thể tại Hà Nội, với sự tham gia của 20 vạn quần chúng lao động. Từ đấy, Ngày Quốc tế Lao động (1/5) hằng 5 là 1 trong những ngày lễ to của quốc gia, ngày hội của GCCN và quần chúng lao động Việt Nam.
Ngày 1/5/1951, trong lời kêu gọi nhân ngày Quốc tế Lao động, Bác Hồ xác định “Trọng tâm thi đua là: Quân đội thi đua giết thịt giặc lập công. Người lao động thi đua tăng gia tư xuất. Dân cày thi đua sản xuất lương thực. Trí thức thi đua sáng tác, phát minh. Cán bộ thi đua cần, kiệm, liêm, chính. Toàn dân thi đua hăng hái tham dự kháng chiến”. Ngày 1/5/1958, Bác đưa ra “Lời kêu gọi nhân Ngày Quốc tế Lao động” khẳng định: “Bữa nay, cộng với quần chúng lao động toàn toàn cầu, chúng ta nhiệt thành chào mừng Ngày 1/5 trong lòng đầy tin cậy và phấn chấn cố gắng vượt mọi gieo neo, tiến lên làm tròn những nhiệm vụ mới…”. Ngày 1/5/1964, nhân Ngày Quốc tế Lao động, Bác gửi điện khen ngợi thanh niên trên công trường khôi phục đường sắt Thanh Hoá – Vinh, trong đấy có việc xây lại Cầu Hàm Rồng.
Bắt đầu từ sau 5 1975, kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1/5 ở Việt Nam càng ngày càng có ý nghĩa lúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kỷ niệm Ngày Chiến thắng 30/4. Đây là dịp giai cấp người lao động và quần chúng lao động cả nước ôn lại truyền thống chiến đấu chống ngoại xâm; sôi nổi hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước để bộc bạch lòng hoài tưởng, hàm ơn thâm thúy với Chủ tịch Hồ Chí Minh – lãnh tụ lớn lao của dân tộc ta. Người đã có công huân rất béo to giúp quần chúng ta tinh thần được ý nghĩa lịch sử và ảnh hưởng của việc kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1/5, từ đấy càng thêm cố gắng đi theo tuyến đường cách mệnh do Đảng và Bác mến yêu đã tuyển lựa, xây dựng và bảo vệ kiên cố Non sông Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
II. ĐÓNG GÓP CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN, TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ CÁCH MẠNG
1. Sự có mặt trên thị trường của tổ chức Công đoàn Việt Nam (28/7/1929)
5 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công xâm lăng Việt Nam, ghi lại bằng sự kiện đổ quân lên bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng). Mục tiêu của chúng là chiếm Việt Nam làm thị phần tiêu thụ hàng hóa, khai thác khoáng sản và bóc lột nhân lực rẻ mạt; chiếm Việt Nam làm căn cứ quân sự của Pháp tại vùng Đông Nam Á.
GCCN Việt Nam có mặt trên thị trường trong công đoạn khai thác thực dân địa của thực dân Pháp, tính tới 5 1929, tổng số người lao động làm việc trong các công ty tư bản Pháp là hơn 22 vạn người, trong đấy 5,3 vạn thợ mỏ; 8,6 vạn người lao động các đơn vị quản lý công, thương mại; 8,1 vạn người lao động các đồn điền.
Có áp bức, có chiến đấu. Bị thực dân Pháp bóc lột nặng nề, người lao động Việt Nam đã chiến đấu chống lại. Tuy nhiên, phần to các cuộc chiến đấu thời đoạn này vẫn còn rải rác và mang tính tự phát, thiếu tổ chức và chỉ đạo.
Ngày 28/7/1929, theo quyết định của Đông Dương Cộng sản Đảng, Nguyễn Đức Cảnh triệu tập hội nghị đại biểu Công hội đỏ Bắc Kỳ lần thứ nhất, họp tại ngôi nhà số 15 Hàng Nón, Hà Nội. Hội nghị đồng tình phê duyệt chương trình, điều lệ và phương hướng hoạt động, bầu Ban Chấp hành lâm thời do Nguyễn Đức Cảnh đảm trách.
Ngày 3/2/1930, Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Đảng, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, lực lượng cốt cán là hội viên Công hội đỏ Bắc Kỳ.
2. Phong trào người lao động và hoạt động Công hội đỏ trong những 5 (1930 – 1945)
Đầu 5 1929, cuộc khủng hoảng kinh tế các nước tư bản đã tác động trực tiếp tới nước Pháp. Chính quyền thực dân địa trút mọi hậu quả lên đầu quần chúng Việt Nam. Đời sống của GCCN vốn đã gieo neo, lại càng gieo neo thêm. Trước tình hình đấy, Công hội đỏ đã chỉ đạo người lao động lao động chiến đấu trong cao trào cách mệnh 1930 – 1931, với trận ra quân trước hết của người lao động Nhà máy Xe lửa Tràng Thi (Hà Nội), Nhà máy cưa, Nhà máy Diêm Bến Thủy (TP. Vinh – Nghệ An) đúng vào ngày 01/5/1930. Phong trào cách mệnh dâng cao, bộ máy chính quyền của đế quốc và phong kiến ở nhiều vùng nông thôn bị tan rã hoặc tê liệt, tổ chức Nông hội đỏ điều hành, quản lý mọi hoạt động trong làng xã. Lần trước hết tại Việt Nam, đã hiện ra 1 bề ngoài chính quyền mới, chính quyền của những công nhân – chính quyền Xô viết Nghệ Tĩnh. Xô viết Nghệ Tĩnh để lại cho GCCN những bài học quý giá về giành và xây dựng chính quyền cách mệnh công nông.
Những 5 1932 – 1935, phong trào cách mệnh của GCCN Việt Nam bị thực dân Pháp đàn áp man rợ, phần đông số cán bộ Đảng và Công hội đỏ đều bị địch bắt, làm cho mối liên lạc giữa Đảng và nhân dân, giữa Công hội đỏ và phong trào người lao động tưởng như bị đứt đoạn. Thêm vào đấy, hiện trạng khủng hoảng kinh tế vẫn rất trầm trọng và kéo dài, khiến cho 8 vạn người thất nghiệp, hoàn cảnh GCCN càng thêm điêu đứng, đau khổ. Nhờ sự lỗ lực bền chí của cán bộ, hội viên và niềm nở cách mệnh của GCCN, phong trào cách mệnh trong cả nước khởi đầu bình phục.
Từ 1936 – 1939, là thời đoạn di chuyển cách mệnh sôi nổi và chiến thắng chưa từng thấy dưới thời Pháp cai trị, nhằm đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình của GCCN Việt Nam. Hàng trăm cuộc đình công của người lao động do các hội Ái hữu tổ chức đã dành được chiến thắng, buộc chính quyền thực dân phải ban hành nhiều thông tư, nghị định hứu khắc phục các đề nghị thiết thực của người lao động như tăng lương, giảm giờ làm từ 10 giờ/ngày xuống 8 giờ/ngày bắt đầu từ ngày 1/1/1938 và đảm bảo nhiều quyền tự do dân chủ khác. Tiêu biểu là cuộc đình công của 3 vạn người lao động khu mỏ than Hòn Gai (11/1936); người lao động xe lửa tuyến Vinh – Dĩ An (1937); cuộc biểu dương lực lượng của 3 vạn người lao động, lao động Hà Nội trong ngày 1/5/1938.
Ngày 01/9/1939, chiến tranh toàn cầu lần thứ 2 khởi đầu đưa nhân loại vào 1 thảm họa mới. Lợi dụng tình thế chiến tranh, các đề quốc Anh, Pháp, càng thẳng tay bóp nghẹt phong trào dân chủ trong nước và tiến hành chế độ khắc nghiệt đối với các nước thực dân địa. Ngày 28/9/1939, toàn quyền Đông Dương ra nghị định cấm mọi hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp tuyên truyền cộng sản, lưu hành, tích trữ mọi tài liệu của cộng sản, giải thể các hội Ái hữu, Nghiệp đoàn.
Tháng 5/1941, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 đã quyết định chuyển hướng chỉ huy chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên bậc nhất. Chiến trường Việt Minh được thành lập, các hội nhân dân biến thành hội cứu quốc. Dù rằng bị địch đàn áp man rợ, mà với ý thức cách mệnh, GCCN và Hội người lao động cứu quốc vẫn tăng trưởng phong trào trên các địa bàn xung yếu (Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Hòn Gai, Sài Gòn…).
Từ tháng 5/1945, GCCN tham dự phong trào chiến đấu chính trị liên kết chiến đấu vũ trang, khởi nghĩa từng phần, thành lập chính quyền cách mệnh của quần chúng. Để đẩy mạnh cung ứng vũ khí cho cách mệnh, hội viên người lao động cứu quốc ở nhiều xí nghiệp đã lấy nguyên nguyên liệu của nhà máy để chế tác vũ khí, trang bị cho các tổ tự vệ tranh đấu.
Ngày 2/9/1945, dưới sự chỉ đạo minh mẫn, cương quyết của Đảng, đứng đầu Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, GCCN đã biến thành lực lượng cốt cán, cộng với quần chúng cả nước đứng lên dành chính quyền, làm nên cuộc Cách mệnh tháng 8 thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước Công nông trước hết ở Đông Nam Á.
3. Phong trào người lao động và hoạt động Công đoàn trong thời đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954)
Sau Cách mệnh tháng 8, quốc gia ta gặp muôn ngàn gieo neo, vừa tăng trưởng kinh tế, xã hội, vừa chống giặc ngoại xâm. Người lao động đã tham dự tranh đấu bảo vệ cơ sở sản xuất của chính quyền cách mệnh, tham dự đình công, bãi thị và tiến công phá hoại các cơ sở kinh tế quan trọng của thực dân Pháp trên khu vực.
Để hợp nhất về tổ chức trên khuôn khổ cả nước, 20/6/1946, tại số nhà 51 Hàng Bồ (Hà Nội), Hội nghị cán bộ cứu quốc được triệu tập. Tại Hội nghị này, Hội người lao động cứu quốc được đổi thành “Công đoàn” và quyết định thành lập Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Ngày 20/7/1946, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tuyên bố chính thức được thành lập và trọng thể ra mắt nhân dân lao động trong cả nước tại Nhà hát to thành thị Hà Nội. Đây là 1 sự kiện có ý nghĩa béo to, ghi lại sự trưởng thành của GCCN, phong trào người lao động và tổ chức Công đoàn Việt Nam.
Ngày 19/12/1946, hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tiếp diễn chỉ huy người lao động tiến hành nhiệm vụ xây dựng các cơ sở sản xuất vũ khí. Công đoàn Việt Nam đã cổ vũ người lao động, nhân viên cùng lực lượng vũ trang tham dự kháng chiến chống Pháp. Chỉ trong mấy ngày đầu, hơn 3.230 người lao động ở nhiều địa phương và các đơn vị quản lý đã tham dự chuyên chở gần 7 ngàn tấn máy móc tới nơi an toàn.
Sau Chiến thắng Việt Bắc thu – đông 5 1947, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chuyển sang quá trình mới, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã phối hợp với Bộ Quốc phòng di chuyển, tổ chức phong trào thi đua sản xuất vũ khí. 5 1948, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phát động phong trào “Tăng gia tư xuất vũ khí”, “Tăng gia tư xuất, tự túc ăn mặc”, hưởng ứng phong trào “Thi đua hăng hái cầm cự, sẵn sàng tổng phản công” trong người lao động quân giới. Ngày 20/7/1949, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phát động phong trào thi đua “Hăng hái sẵn sàng tổng phản công” nhằm cổ vũ toàn bộ người lao động kết thúc nhiệm vụ, chuyên dụng cho tranh đấu. Được sự tổ chức, cổ vũ kịp thời của các ngành Công đoàn, 5 1950, người lao động đã sản xuất được trên 350 ngàn nông cụ các loại, 200 máy bơm nước, 40 xe đạp nước cung ứng cho nông nghiệp. Tính tới tháng 11/1950, CNLĐ vùng tự do đã quyên góp, ủng hộ cho Nhà nước 1.076.000 đồng. Ủng hộ quần chúng vùng bị nạn và quân nhân 16.000 bộ áo quần, 6.000 chiếc 3 lô, 1.200 áo trấn giữ…Cộng với việc tăng cường phong trào thi đua sản xuất, Công đoàn các ngành còn coi trọng việc di chuyển tăng gia cải thiện đời sống, làm tốt công việc văn hóa, giáo dục, tăng lên trình độ mọi mặt cho CNVCLĐ. Trong vùng địch tạm chiếm, Công đoàn đã bám lấy cơ sở, tuyên truyền tỉnh ngộ người lao động, lao động, xây dựng và tăng trưởng tổ chức Công đoàn, tăng cường chiến đấu kinh tế, chính trị, góp phần làm suy yếu địch.
Giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã hăng hái di chuyển GCCN cộng với giai cấp dân cày (GCND) xây dựng được khối liên minh công nông kiên cố, làm cốt cán xây dựng và củng cố chính quyền quần chúng. Công đoàn Việt Nam đã góp phần hăng hái vào thắng lợi Điện Biên Phủ lẫy lừng 5 châu, chấn động địa cầu, chấm dứt vang dội 9 5 kháng chiến chống thực dân Pháp đầy hy sinh, khó khăn và quả cảm của dân tộc Việt Nam.
4. Phong trào người lao động và hoạt động Công đoàn trong những 5 xây dựng CNXH, chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1954 – 1975)
Sau thắng lợi Điện Biên Phủ, Việt Nam tạm bợ bị phân thành 2 miền, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng và bắt tay vào công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội (CNXH), miền Nam còn dưới giai cấp thống trị của đế quốc Mỹ.
Phục vụ đề nghị của tình hình mới, Hội nghị Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (khóa I) họp vào tháng 8/1954 đã xác định nhiệm vụ trọng điểm là “Cần phải cổ vũ, tổ chức số đông nhân dân lao động trong các đô thành phố 1 lực lượng mạnh bạo làm chỗ dựa tốt nhất, cứng cáp nhất cho chính quyền thực hiện công việc tiếp nhận, bình phục sản xuất, gìn giữ an ninh, thứ tự thành thị”.
Ở miền Bắc thực hiện công cuộc tái thiết quốc gia, gieo neo tiếp diễn đặt lên vai người người lao động. Với bổn phận chủ sở hữu của quốc gia, hàng ngũ CNVCLĐ đã tăng cường sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống phí phạm. Nhờ vậy chỉ chỉ cần khoảng ngắn hoạt động sản xuất tại các cơ sở công nghiệp đã bình phục. Qua tiến hành kế hoạch 5 5 lần thứ nhất, những tiêu biểu trong phong trào thi đua yêu nước của GCCN được lan tỏa, như “Sóng Duyên Hải”, “Cộng tác xã Thành Công”, “Ba cố gắng”…đã hiện ra nhiều CNVCLĐ điển hình được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, là những tấm gương sáng trong học tập, lao động sản xuất và tranh đấu.
Ở miền Nam, phong trào người lao động, Công đoàn hoạt động trong điều kiện cực kỳ gieo neo, đế quốc Mỹ và bè đảng tay sai Ngô Đình Diệm ra công khủng bố, đàn áp. Các cấp công nghiệp, thủ công nghiệp bị đình đốn, đời sống của CNVCLĐ gieo neo. Trước tình hình đấy, Đảng đã chỉ huy các cơ sở trong nội đô, trong các đồn điền phải tìm mọi cách bám đất, bám dân tăng trưởng lực lượng, tổ chức cho người lao động chiến đấu.
Ngày 5/11/1957, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký Sắc lệnh số 108-SL/L10 về ban hành Luật Công đoàn đã tạo cơ sở pháp lý, tăng lên địa điểm của tổ chức Công đoàn, củng cố vai trò chỉ đạo của GCCN trong tình hình mới. Thắng lợi của công cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và bước đầu tăng trưởng kinh tế, văn hóa đã tạo ra những tiền đề quan trọng góp phần xây dựng và đưa miền Bắc tiến dần lên CNXH, cùng lúc chiến đấu tiến hành hợp nhất giang san, thành tựu đấy có đóng góp quan trọng của GCCN và tổ chức Công đoàn Việt Nam.
Trước những đề nghị mới, Đại hội lần thứ II Công đoàn Việt Nam được diễn ra tại Hà Nội từ ngày 23-27/2/1961 đã quyết định đổi tên “Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam” thành “Tổng Công đoàn Việt Nam”. Tiêu chí của Đại hội là “Các ngành Công đoàn phải phát động phong trào thi đua lao động sản xuất, cần kiệm xây dựng CNXH với năng suất lao động, hiệu quả công việc, chuyên dụng cho và tham dự tranh đấu, cố gắng giải phóng miền Nam, hợp nhất quốc gia”.
Tổng Công đoàn Việt Nam tham dự xây dựng 1 số cơ chế, chế độ bổ sung và sửa đổi về lao động, tiền công, tiền thưởng. Liên hiệp Công đoàn các tỉnh, thành thị đã ký kết Nghị quyết liên tịch với cơ quan chính quyền đồng cấp về việc tổ chức tiến hành các cơ chế, chế độ đối với người lao động nhân viên lao động (CNVCLĐ). Nhiều công đoàn cơ sở đã kịp thời cổ vũ CNVCLĐ thi đua lao động, sản xuất, cố gắng kết thúc kế hoạch được giao. Việc tiến hành luật lệ an toàn lao động, vệ sinh công nghiệp được tiến hành tốt hơn, cải thiện điều kiện làm việc cho CNVCLĐ.
5 1965 Liên hiệp Công đoàn giải phóng miền Nam được thành lập đã ko dừng củng cố và tăng trưởng, vừa tổ chức cho CNVCLĐ các thành thị chiến đấu, vừa cổ vũ CNVCLĐ vùng giải phóng tăng cường sản xuất chuyên dụng cho tranh đấu. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu thân 1968 và Chiến dịch Hồ Chí Minh, Công đoàn giải phóng đã di chuyển CNVCLĐ ở các đô thị nhất loạt nổi dậy, phối hợp với lực lượng vũ trang xoá sổ địch, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân giải phóng hoàn toàn miền Nam, hợp nhất Non sông.
5. Phong trào người lao động và hoạt động Công đoàn trong những 5 cả nước hợp nhất đi lên chủ nghĩa xã hội (1975 – 1986)
Đầu 5 1976, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có mặt trên thị trường, đã tạo điều kiện căn bản để hợp nhất tổ chức Công đoàn trên khuôn khổ cả nước.
Thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, từ tháng 01/1976 Tổng Công đoàn Việt Nam và Liên hiệp Công đoàn giải phóng miền Nam bắt tay vào sẵn sàng các điều kiện cho việc hợp nhất tổ chức Công đoàn của GCCN Việt Nam. Ngày 6/6/1976, Hội nghị Công đoàn toàn quốc được diễn ra tại thành thị Hồ Chí Minh đã quyết định hợp nhất Công đoàn 2 miền Nam, Bắc thành “Tổng Công đoàn Việt Nam”.
Những 5 1981-1982, Công đoàn đã thực hiện nhiều đợt tuyên truyền sâu rộng trong người lao động, nhân viên về tình hình và nhiệm vụ của quốc gia, về chủ trương, chế độ, nhất là các chế độ kinh tế của Đảng và Nhà nước. Đi đôi với giáo dục chính trị, Công đoàn đã có nhiều phấn đấu trong việc duy trì phong trào học bổ túc văn hoá, kỹ thuật, nghiệp vụ; tăng cường các hoạt động văn hoá, văn nghệ nhân dân, thể dục thể thao; công việc tạp chí, xuất bản của Công đoàn đã có những văn minh mới.
Đại hội lần thứ V Công đoàn Việt Nam thực hiện từ ngày 16-18/11/1983 đã khẳng định chỉ tiêu: “Cổ vũ người lao động, lao động tiến hành 3 chương trình kinh tế to của Đảng, là tăng trưởng nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu”, Đại hội đã Quyết định lấy ngày 28/7/1929 là Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam.
Các phong trào thi đua lao động sản xuất, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trong CNVCLĐ đã tạo được bước chuyển biến hăng hái, nhiều tiêu biểu đương đại và yếu tố mới đã tạo nên, góp phần béo to vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Non sông. Công việc tăng trưởng sum họp được Công đoàn chú trọng, số sum họp và Công đoàn cơ sở càng ngày càng nâng cao. Kế bên đấy, Công đoàn còn tham dự vào lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động, đề xuất Nhà nước bổ sung phụ cấp ốm đau, thai sản, tại nạn lao động, trợ cấp gieo neo…Các cơ chế ngơi nghỉ, thăm quan du hý và các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao được duy trì, tăng trưởng.
Trong 10 5 đầu xây dựng quốc gia theo tuyến đường xã hội chủ nghĩa (1975 – 1985), Công đoàn đã phối hợp với chính phủ tìm cách tháo gỡ gieo neo trong sản xuất và đời sống, tham dự với xí nghiệp, nhà máy tiến hành Chỉ thị 25/CP và 26/CP của Hội đồng Chính phủ về sản xuất và hỗ trợ các đơn vị quản lý sản xuất công nghiệp; phát động phong trào thi đua tăng lên năng suất, chất lượng, hiệu quả trong sản xuất; tuyên truyền, giáo dục CNVCLĐ các hiện tượng thụ động, tiến hành nghiêm pháp luật, chế độ của Nhà nước; tiến hành tốt chủ trương tăng trưởng 1 số ngành công nghiệp nặng quan trọng chuyên dụng cho tăng trưởng nông nghiệp, tăng trưởng sản xuất hàng tiêu dùng chuyên dụng cho đời sống quần chúng, tìm các giải pháp chăm lo đời sống CNVC.
Kỷ niệm 55 5 Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929 – 8/7/1984), Nhà nước đã tặng Tổng Công đoàn Việt Nam Huân chương Sao Vàng – Huân chương cao quý nhất của Nhà nước Việt Nam.
6. Phong trào người lao động và hoạt động Công đoàn trong tiến hành đường lối đổi mới của Đảng (1986 – 2021)
Quốc gia hòa bình, hợp nhất, mà hậu quả của chiến tranh để lại rất nặng nề chưa được hàn gắn, thêm vào đấy, chiến tranh biên thuỳ Tây Nam, biên thuỳ phía Bắc đã khiến cho tình hình kinh tế, xã hội ở nước ta mất bình ổn, đời sống của CNVCLĐ và quần chúng gặp muôn ngàn gieo neo. Trong điều kiện đấy, Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) đề ra đường lối đổi mới toàn diện, thâm thúy, giải phóng mọi tiềm năng sẵn có, tăng trưởng nhiều thành phần kinh tế, mở mang kinh tế đối ngoại, tiến hành ban chương trình kinh tế. Tháng 10/1988, Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ VII quyết định đổi tên“Tổng Công đoàn Việt Nam”thành“Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam”.
Qua 35 5 đổi mới, hơn 12 5 tiến hành Nghị quyết Trung ương 6 (khóa X), GCCN Việt Nam đã tăng về số lượng, trưởng thành về chất lượng và khẳng định, phát huy vai trò, địa vị của mình trong thực tế xây dựng, bảo vệ Non sông. Hiện nay, tổng số lao động làm thuê hưởng lương trong các loại hình công ty ở nước ta có khoảng 24,5 triệu người, trong đấy người lao động, lao động trong các công ty chiếm khoảng 60%, chiếm tỷ lệ khoảng 14% số dân và 27% lực lượng lao động xã hội. Trình độ học thức và trình độ chuyên môn, nghề nghiệp, chính trị của giai cấp người lao động càng ngày càng được cải thiện. Số người lao động có kiến thức, nắm vững khoa học – công nghệ đương đại đã nâng cao. Tạo nên lớp người lao động trẻ có trình độ học thức, văn hóa, được tập huấn nghề theo chuẩn nghề nghiệp, được đoàn luyện trong thực tế sản xuất tiên tiến, bí quyết làm việc càng ngày càng đương đại.
Công việc Công đoàn và phong trào người lao động đã đạt được kết quả toàn diện, phục vụ tốt hơn nhu cầu, ước muốn chính đáng của sum họp, CNVCLĐ. Công đoàn đã có những thông minh, đề nghị và tổ chức được nhiều chương trình hoạt động mới như: Chăm lo phúc lợi cho sum họp công đoàn; tổ chức “Tết Sum vầy” cho công nhân; xây dựng các thể chế công đoàn, góp phần tháo gỡ những vấn đề giận dữ về nhà ở, vườn trẻ, nơi sinh hoạt văn hoá… cho công nhân (NLĐ). Đã có nhiều giải pháp linh động, kịp thời cùng hệ thống chính trị khắc phục những vụ, việc liên can tới công việc đảm bảo an ninh, thứ tự, lợi quyền, đời sống của người lao động, nhân viên, công nhân. Tổ chức hội thoại, thương thuyết thoả ước lao động cộng đồng, góp phần đảm bảo cơ chế, chế độ và từng bước tăng lên phúc lợi, đảm bảo an sinh xã hội cho công nhân, xúc tiến tăng trưởng sản xuất kinh doanh, xây dựng quan hệ lao động hài hoà, bình ổn và văn minh. Hoạt động tuyên truyền, giáo dục tạo được sức lan toả trong hệ thống. Phong trào thi đua yêu nước trong người lao động, nhân viên, lao động có sự chuyển biến hăng hái. Tổ chức công đoàn càng ngày càng được củng cố và tăng trưởng. Công việc người lao động, công nhân đạt nhiều kết quả, số lượng sum họp đẩy mạnh so với các nhiệm kỳ trước, hiện ra nhiều bề ngoài người lao động, nhân viên, tăng trưởng sum họp, thành lập công đoàn cơ sở rộng khắp trong các công ty. Mẫu hình tổ chức bộ máy, tổ chức công đoàn đang được hoàn thiện; chất lượng hàng ngũ cán bộ công đoàn từng bước được tăng lên. Trên khắp các lĩnh vực đã hiện ra nhiều tấm gương tiêu biểu đương đại, người lao động, nhân viên, lao động tiên phong và thành công trong lao động sản xuất kinh doanh, khẳng định vai trò của tổ chức công đoàn trong hệ thống chính trị, tô thắm thêm truyền thống vang dội của Công đoàn Việt Nam.
Trong thời kì đến, công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam đứng trước cơ hội mới, thử thách mới lúc quốc gia càng ngày càng hội nhập quốc tế sâu rộng; lúc Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) được tiến hành. Vì thế, tổ chức Công đoàn Việt Nam cần phát huy những kết quả đã đạt được, tiến hành tốt tác dụng đại diện, bảo vệ quyền và ích lợi hợp lí, chính đáng của NLĐ, trong đấy tập hợp vào các nhiệm vụ, biện pháp sau:
1 là, tập hợp tuyên truyền, di chuyển cán bộ, sum họp, CNVCLĐ tiến hành Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; Nghị quyết Hội nghị TƯ 6 (khóa X) về tiếp diễn xây dựng giai cấp người lao động Việt Nam thời đoạn tăng cường công nghiệp hoá, tiên tiến hoá quốc gia.
Hai là, chăm lo, làm tốt nhiệm vụ xây dựng giai cấp Người lao động, xứng đáng là lực lượng cốt cán, tiên phong trong sự nghiệp công nghiệp hóa, tiên tiến hóa quốc gia; chú trọng tăng lên nhận thức, khả năng chính trị, và trình độ cách mệnh của giai cấp người lao động; tập huấn cán bộ xuất thân từ người lao động.
Ba là, tăng lên chất lượng và hiệu quả hoạt động của Công đoàn trong việc tham dự với Đảng, Nhà nước hoàn thiện hệ thống chế độ, luật pháp liên can tới NLĐ; thương thuyết với người sử dụng lao động và tổ chức tốt việc ký kết tiến hành thỏa ước lao động cộng đồng, khắc phục tốt các mâu thuẫn lao động, bảo vệ quyền và ích lợi hợp lí, chính đáng cho NLĐ.
4 là, chủ động phối hợp với chính quyền phát động sâu rộng và tổ chức tốt các phong trào thi đua yêu nước; cổ vũ số đông CNVC và NLĐ phát huy quyền làm chủ quốc gia, tiên phong trong các phong trào thi đua tăng trưởng kinh tế xã hội.
5 là, xây dựng bộ máy tổ chức tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, góp phần xây dựng giai cấp người lao động, tổ chức Công đoàn lớn mạnh, tham dự xây dựng Đảng, Nhà nước trong lành, lớn mạnh.
Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin có lợi khác trên phân mục Tài liệu của Happy Home VN.

[rule_2_plain] [rule_3_plain]

#Đề #cương #tuyên #truyền #kỷ #niệm #Ngày #Quốc #tế #Lao #động

#Đề #cương #tuyên #truyền #kỷ #niệm #Ngày #Quốc #tế #Lao #động

Happy Home

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button