Bộ 4 đề thi HK1 môn Ngữ văn 6 Kết nối tri thức năm 2021-2022 Trường THCS Võ Bẩm

Nội Dung Bài Bộ 4 đề thi HK1 môn Ngữ văn 6 Kết nối tri thức năm 2021-2022 Trường THCS Võ Bẩm

Bộ 4 đề thi HK1 môn Ngữ văn 6 Kết nối kiến thức 5 2021-2022 Trường THCS Võ Bẩm

Với mong muốn mang đến cho các em học trò có thêm nhiều tài liệu ôn tập, sẵn sàng thật tốt cho kì thi HK1 sắp tới, ban chỉnh sửa HỌC247 xin gửi tới các em Bộ 4 đề thi HK1 môn Ngữ văn 6 Kết nối kiến thức 5 2021-2022 Trường THCS Võ Bẩm dưới đây. Chúc các em có 1 kì thi thật tốt!

TRƯỜNG THCS VÕ BẨM

ĐỀ THI HỌC KÌ 1

MÔN: NGỮ VĂN 6 KNTT

NĂM HỌC: 2021-2022

(Thời gian làm bài: 90 phút)

 

ĐỀ SỐ 1

Phần I: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (6 điểm) 

Đọc đoạn trích sau và giải đáp các câu hỏi:

Tôi tới tận gốc chanh chuyên chú theo dõi. Từng đợt, từng đợt, 7 8 con 1 khi, những chú bọ ngựa nhỏ tí ti như con muỗi, màu xanh cốm, ló cái đầu nghịch ngợm có đôi mắt thô lố lách khỏi kẽ hở trên ổ trứng mẹ, cố rướn ra, cố nhoài ra, thoát được cái đầu, cái mình… rồi nhẹ nhõm tọt khỏi ổ trứng, người treo lửng lơ trên 1 sợi tơ rất mảnh bay bay theo chiều gió. Mới ra khỏi ổ trứng, các chú nằm đờ 1 lát, rồi , rồi ngó ngoáy; các chú càng cứng càng nhúc nhắc thì sợi tơ càng dài ra, từ từ thả các chú xuống phía dưới. Cứ như là mẹ các chú đang ở ấy, nhẹ nhõm bồng từng chú nhưng mà đặt xuống 1 cái nệm êm vậy.

Chú bọ ngựa con đầu đàn “nhảy dù” trúng 1 quả chanh non. Chú đứng hiên ngang trên quả chanh tròn xinh, giương giương đôi tay kiếm bé xíu, mình lắc lư theo kiểu võ sĩ, ngước nhìn từng loạt, từng loạt đàn em mình đang “đồ bộ” xuống cực kỳ chuẩn xác và nhanh lẹ. Chú đứng trên quả chanh, mang đầy đủ dòng máu hiệp sĩ của nòi giống bọ ngựa, dũng mãnh như con sư tử đứng vờn quả cầu…

Đàn bọ ngựa mới nở chạy ton tả, tức tốc dàn quân ra khắp cây chanh, mỗi con mỗi ngả mở đầu 1 cuộc sống can đảm, tự lập.

(Vũ Tú Nam, Cái trứng bọ ngựa, trích Những tác phẩm chọn lựa dành cho thiếu nhi – Hoa lá trong vườn, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2009, tr. 29)

Câu 1. Xác định ngôi kể của người kể chuyện trong đoạn trích.

Câu 2. Liệt kê 1 số cụ thể mô tả đàn bọ ngựa con và chú bọ ngựa con đầu đàn.

Câu 3. Nhân vật “tôi” đã rất chuyên chú và nhẫn nại lúc quan sát những cái trứng bọ ngựa nở thành đàn bọ ngựa con. Em hãy chỉ ra 1 số cụ thể trình bày điều ấy.

Câu 4. Cách quan sát, mô tả của đối tượng “tôi” trình bày tình cảm gì với các chú bọ ngựa con?

Câu 5. Hãy quan sát kĩ 1 hình ảnh tự nhiên quanh em (đám mây, bông hoa, giọt sương, cây lá,…) hoặc 1 con vật nuôi và đánh dấu vài điều thú vị nhưng mà em trông thấy, cảm thấy.

Câu 6. Tìm và nêu tính năng của từ láy trong đoạn văn sau:

Từng đợt, từng đợt, 7 8 con 1 khi, những chú bọ ngựa nhỏ tí ti như con muỗi, màu xanh cốm, ló cái đầu nghịch ngợm có đôi mắt thô lố lách khỏi kẽ hở trên ổ trứng mẹ, cố rướn ra, cố nhoài ra, thoát được cái đầu, cái mình… rồi nhẹ nhõm tọt khỏi ổ trứng, người treo lửng lơ trên 1 sợi tơ rất mảnh bay bay theo chiều gió.

Câu 7. Tìm 1 câu văn có sử dụng giải pháp tu từ so sánh trong đoạn trích trên và chỉ ra tính năng của giải pháp tu từ ấy.

Phần II: LÀM VĂN (4 điểm) 

Viết bài văn kể lại 1 trải nghiệm của em.

—- HẾT —-

ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 1

Phần I: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (6 điểm) 

Câu 1. Người kể chuyện thứ bậc nhất, xưng “tôi”.

Câu 2.

– Chi tiết mô tả đàn bọ ngựa con: nhỏ tí ti như con muỗi, màu xanh cốm, ló cái đầu nghịch ngợm có đôi mắt thô lố lách khỏi kẽ hở trên ổ trứng mẹ, cố rướn ra, cố nhoài ra, thoát được cái đầu, cái mình, mới ra khỏi ổ trứng, các chú nằm đờ 1 lát, rồi , rồi ngó ngoáy; các chú càng cứng càng nhúc nhắc thì sợi tơ càng dài ra, từ từ thả các chú xuống phía dưới.

– Chi tiết mô tả chú bọ ngựa con đầu đàn: hiên ngang trên quả chanh tròn xinh, giương giương đôi tay kiếm bé xíu, mình lắc lư theo kiểu võ sĩ.

Câu 3.

– Các cụ thể mô tả đàn bọ ngựa con tính từ lúc mở đầu chui ra khỏi ổ trứng tới lúc có thể nhảy xuống và toả đi “mở đầu 1 cuộc sống can đảm, tự lập” Mỗi “quá trình” đều được tái tạo rất kĩ càng, cụ thể. Thí dụ: lách khỏi kẽ hở trên ổ trứng mẹ, cố rướn ra, cố nhoài ra, thoát được cái đầu, cái mình… rồi nhẹ nhõm tọt khỏi ổ trứng, người treo lơ  lửng trên 1 sợi tơ rất mảnh bay bay theo chiều gió…

Câu 4.

– Cách quan sát chuyên chú, nhẫn nại; cách mô tả rất cụ thể, sinh động của đối tượng “tôi” trình bày sự tò mò, ham thích và tình cảm yêu mến dành cho các chú bọ ngựa con.

Câu 5.

– Quan sát chú mèo em thấy: Chú mèo con có bộ lông màu vàng óng, đôi mắt bự tròn, đen láy. Hai chiếc tai khi nào cũng dựng đứng lên để nghe ngóng bao quanh. Cái đuôi thì nguây nguẩy liên tiếp. Chú mèo rất ngoan, cần cù bắt chuột, rất quý người.

Câu 6.

– Từ láy: tí ti thô lố, nhẹ nhõm, lửng lơ, bay bay.

– Việc sử dụng các từ láy giúp mô tả sinh động hình ảnh những chú bọ ngựa vừa mới nở: bé nhỏ, nghịch ngợm, khôn khéo.

Câu 7.

–  Câu văn có sử dụng giải pháp tu từ so sánh: Chú đứng trên quả chanh, mang đầy đủ dòng máu hiệp sĩ của nòi giống bọ ngựa, dũng mãnh như con sư tử đứng vờn quả cầu.

– Hình ảnh bọ ngựa đứng trên quả chanh được so sánh với con sư tử đứng vờn quả cầu. Biện pháp tu từ so sánh đã tô đậm vẻ đẹp khoẻ khoắn, dũng mãnh của chú bọ ngựa ngay từ khi mới sinh ra.

Phần II: LÀM VĂN (4 điểm) 

Thực hành viết theo các bước

1. Trước lúc viết

a. Chọn lựa đề tài: Chia tay mái trường Tiểu học. 

b. Tìm ý 

– Em nhớ và định kể lại kỉ niệm: Buổi học rốt cục ở trường tiểu học.

– Câu chuyện chi tiết như sau:

+ Tới lớp thật sớm, quan sát mọi thứ bao quanh.

+ Không khí của lớp học thâm trầm.

+ Cô giáo lần cuối điểm danh mọi người.

– Kỉ niệm đấy thâm thúy, đáng nhớ vì ghi lại chấm dứt 5 5 học ở trường tiểu học, chuyển sang cấp học mới, môi trường mới.

c. Lập dàn ý

– Mở bài: Nêu nói chung về kỉ niệm: Nhớ như in cái ngày rốt cục tại trường tiểu học của mình, khoảnh khắc phải chia xa mọi người.

– Thân bài: Kể cụ thể, chi tiết về kỉ niệm.

+ Tôi đi học thật sớm, nhìn kĩ lại y phục, đồ dùng của mình. Cảm giác khó tả lúc sẵn sàng ko còn là học trò tiểu học.

+ Trên đường tới trường không xa lạ, nhìn kĩ quang cảnh thấy man mác buồn.

+ Vào lớp học, quan sát bằng hữu vui cười, hồn nhiên trêu đùa.

+ Cô giáo chủ nhiệm bước vào lớp, căn dặn cả lớp.

+ Lần rốt cục, cô điểm danh sĩ số, người nào nấy đều rưng rưng, chạy ôm lấy cô.

– Kết bài: Cảm tưởng của em về kỉ niệm ấy.

+ Ấy là khoảnh khắc tuyệt hấp dẫn nhất trong những 5 tháng học lớp 5.

+ Khoảng khắc kết thúc cấp tiểu học, chuyển sang quá trình mới, bước vào lớp 6.

—(Để xem tiếp đáp án phần Làm văn vui lòng xem trực tuyến hoặc đăng nhập tải về di động)—

 

ĐỀ SỐ 2

Phần I: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (6 điểm) 

Đọc đoạn thơ sau và giải đáp các câu hỏi:

Ai xui ta nhớ Hàm Rồng

Muốn trông chẳng thấy cho lòng khôn khuây.

Từ ta quay về Sơn Tây

Con đường Nam, Bắc ít ngày vãng lai.

Sơn cầu còn đỏ chưa phai?

Non xanh còn đối sông dài còn sâu?

Còn thuyền đánh cá buông câu?

Còn xe lửa chạy trên cầu như xưa?

Lấy người nào viếng cảnh hiện thời

Nhưng mà hay cảnh có đợi chờ cùng nhau!

Ước sao sông cứ còn sâu

Non cao còn cứ giữ màu xanh xanh.

(Tản Đà, trích Nhớ cảnh cầu Hàm Rồng, trong Tuyển tập Tản Đà, NXB Văn chương, Hà Nội, 1986, tr. 231 – 232)

Câu 1. Bài thơ viết về cảnh đẹp nào của tổ quốc? Hãy chỉ ra những hình ảnh tác ví thử dụng để mô tả cảnh đẹp ấy.

Câu 2. Tình cảm của thi sĩ được trình bày như thế nào qua 2 dòng thơ đầu: Ai xui ta nhớ Hàm Rồng/ Muốn trông chẳng thấy cho lòng khôn khuây?

Câu 3. Việc tác ví thử dụng các câu hỏi nối liền liên kết với giải pháp tu từ điệp ngữ đã trình bày điều gì?

Câu 4. Em hiểu như thế nào về ý nghĩa của 2 dòng thơ: Ước sao sông cứ còn sâu/ Non cao còn cứ giữ màu xanh xanh?

Câu 5. Qua đoạn thơ, em cảm thu được tình cảm gì của tác giả?

Câu 6. Xác định và chỉ ra tính năng của giải pháp tu từ được sử dụng trong 2 dòng thơ:

Lấy người nào viếng cảnh hiện thời

Nhưng mà hay cảnh có đợi chờ cùng nhau!

Phần II: LÀM VĂN (4 điểm) 

Câu 1. Hãy tập gieo vần cho thơ lục bát bằng cách tìm tiếng thích hợp cho mỗi chỗ trống trong các đoạn thơ sau:

(1) Ngày nay dù ở nơi…

Nhưng lúc về tới cây đa đầu làng

Thì bao lăm cảnh mơ…,

Hiện ra lúc thoáng cổng làng trong tre.

(Theo Bàng Bá Lân, Cổng làng)

(2) Đêm mưa làm nhớ ko ….,

Lòng run thêm lạnh nỗi hàn rộng lớn.

Tai nương nước giọt mái…

Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn.

(Theo Huy Cận, Buồn đêm mưa)

Câu 2. Hãy viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) đánh dấu xúc cảm của em về đoạn thơ sau:

Đồng chiêm phả nắng lên ko

Cánh cò dẫn gió qua thung lúa vàng

Gió nâng tiếng hát chói chang

Long lanh lưỡi hái liếm ngang chân mây.

(Nguyễn Duy, Tiếng hát mùa gặt)

—- HẾT —-

ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 2

Phần I: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (6 điểm) 

Câu 1.

– Bài thơ viết về cảnh cầu Hàm Rồng. Những hình ảnh tác ví thử dụng để mô tả cảnh đẹp ấy: màu sơn “đỏ” của cầu, màu “xanh” của núi Ngọc Sơn, độ “sâu” của dòng sông Mã hùng vĩ, cảnh tấp nập “buông câu” của những con thuyền đánh cá, hình bóng xe lửa Bắc – Nam chạy qua chạy lại trên cầu.

Câu 2.

– Tình cảm của thi sĩ đối với cầu Hàm Rồng được trình bày rất sâu đậm qua 2 dòng thơ: Ai xui ta nhớ Hàm Rồng/ Muốn trông chẳng thấy cho lòng khôn khuây. Tác giả muốn được nhận ra cầu Hàm Rồng cho vơi phần nào nỗi nhớ túc trực trong lòng.

Câu 3.

– 4 câu hỏi nối liền liên kết với giải pháp tu từ điệp ngữ: còn đỏ, còn đối, còn sâu, còn thuyền đánh cá, còn xe lửa chạy,… đã gợi tả nỗi day dứt, băn khoăn của tác giả về cảnh sắc Hàm Rồng. Cảnh Hàm Rồng đã in sâu trong tâm hồn thi sĩ với tất cả màu sắc, hoạt động,… Giờ đây, phải xa Hàm Rồng, tác giả băn khoăn ko biết Hàm Rồng có còn giữ nguyên được những vẻ đẹp ấy hay ko.

Câu 4.

– Hai dòng thơ: Ước sao sông cứ còn sâu/ Non cao còn cứ giữ màu xanh xanh đã trình bày nỗi mong ước, khắc khoải của tác giả – mong sao cảnh Hàm Rồng ko chuyển đổi theo dòng chảy thời kì, trong bãi bể nương dâu cuộc đời. Sông Mã “cứ còn sâu”. Núi Ngọc Sơn “còn cứ giữ màu xanh xanh”,…

Câu 5.

– Đoạn thơ cho ta thấy tình cảm yêu quý khẩn thiết của thi sĩ Tản Đà đối với cầu Hàm Rồng nói riêng và đối với quê hương tổ quốc khái quát.

Câu 6. 

– Trong 2 dòng thơ: Lấy người nào viếng cảnh hiện thời/ Nhưng mà hay cảnh có đợi chờ cùng nhau!, thi sĩ đã sử dụng giải pháp tu từ nhân hoá. Cầu Hàm Rồng được tác giả đề cập như 1 con người, 1 người bạn tri kỉ tri kỷ, 1 cố tri. Nhà thơ băn khoăn tự hỏi, trong bao 5 tháng cách biệt, ko biết cảnh Hàm Rồng “có đợi chờ” mình để “cùng nhau” hàn huyên, thổ lộ.

Phần II: LÀM VĂN (4 điểm) 

Câu 1. 

(1) Ngày nay dù ở nơi xa,

Nhưng lúc về tới cây đa đầu làng;

Thì bao lăm cảnh mơ màng,

Hiện ra lúc thoáng cổng làng trong tre.

(Bàng Bá Lân, Cổng làng)

(2) Đêm mưa làm nhớ ko gian,

Lòng run thêm lạnh nỗi hàn rộng lớn.

Tai nương nước giọt mái nhà

Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn.

(Huy Cận, Buồn đêm mưa)

—(Để xem đầy đủ nội dung của Đề thi số 2 vui lòng xem trực tuyến hoặc đăng nhập tải về di động)—

 

ĐỀ SỐ 3

Phần I: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (6 điểm) 

Đọc đoạn trích sau và giải đáp các câu hỏi:

Cổ Chiên – cái tên thật lạ và thật đẹp, đẹp như dòng nước cuồn cuộn phù sa nuôi cây lá 2 bên bờ, thật ra là 1 nhánh sông Tiền Giang, dài 82 cây số. Trên bản đồ nó chỉ là 1 đường vẽ màu xanh bé nhỏ.

Nhớ những giờ địa lí hồi trung học đệ nhất cấp(1), thầy giáo chia nhóm học trò để vẽ bản đồ tổ quốc. Nhóm nào vẽ đúng và đẹp thì được điểm cao. Thầy dạy chúng tôi cách đo tỷ lệ thật chuẩn xác. Chúng tôi lấy giấy khổ phệ, nắn nót vẽ từng nét bút chì màu. Chính nhờ những buổi học đấy nhưng mà dòng Cổ Chiên vừa xa lạ vừa quen thuộc đã đi vào trí não non nớt của tôi cộng với những tên sông bóng gió đầy thương yêu khác: Nậm Thi, Lục Nam, Kinh Thầy, Rạch Gầm, Vàm Nao, Gành Hào,… Giờ địa lí của thầy  nuôi trong lòng tôi giấc mơ 1 ngày nào được đi thuyền trên khắp các dòng sông nước mình.

Tôi tới với Cổ Chiên lúc cây cầu bắc qua sông đang thành hình. Những chiếc phà tận tuy bao 5 đưa người dân qua sông giờ sắp kết thúc sứ mạng. Sẽ ko còn cảnh hy vọng qua phà giữa ngày mưa dầm hay trong cơn nắng gắt. Đường tiêu thụ nông phẩm đồng bằng sẽ thông thoáng và thuận tiện hơn. Gần Tết, hoa quả nơi đây vừa theo đường sông vừa theo đường bộ toả về các ngả. Dòng sông đã chứng kiến bao mùa hoa trái. Dừa, bắp, đậu, dưa đỏ, khoai lang, khoai mì, cam, quýt,… từ bên cồn chở về nờm nợp. Trên sông, những ngôi nhà bè nối liền nhau, mái tôn sáng lấp loáng dưới ánh nắng.

Những dòng sông, những cây cầu, những chuyến phà,… như thế đã kết nối thực tại với giấc mơ lãng du thời niên thiếu của tôi.

(Theo Huỳnh Như Phương, Thành phố những thước phim quay chậm, NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 2018, tr. 107 – 113)

(1) Trung học đệ nhất cấp: chương trình trung học từ lớp 6 tới lớp 9 (hệ thống giáo dục miền Nam trước 5 1979).

Câu 1. Người kể chuyện đã “gặp” dòng Cổ Chiên theo những cách nào?

Câu 2. Cuộc sống của người dân Nam Bộ gắn bó với dòng Cổ Chiên như thế nào?

Câu 3. Tìm trong đoạn trích những từ ngữ mô tả sự trù mật của vùng đất phương Nam.

Câu 4. Cảnh sầm uất, tấp nập trên dòng Cổ Chiên và hình ảnh “1 đường chỉ màu xanh bé nhỏ” trên bản đồ gợi cho em nghĩ suy gì?

Câu 5. Hãy nêu những nét đồng nhất về nội dung của đoạn trích này với đoạn trích trong bài thơ Cửu Long Giang ta ơi (Nguyên Hồng).

Câu 6. Ước mong thuở học sinh thường được chắp cánh từ những bài học trên lớp. Hãy viết (khoảng 5 – 7 câu) về 1 bài học đã gợi lên trong em những mơ ước về mai sau.

Câu 7. Xác định giải pháp tu từ được sử dụng trong câu sau và chỉ ra tính năng của giải pháp tu từ ấy:

Những chiếc phà tận tuy bao 5 đưa người dân qua sông giờ sắp kết thúc sứ mạng.

Phần II: LÀM VĂN (4 điểm) 

Viết đoạn văn (khoảng 7 – 10 câu) về 1 cảnh sinh hoạt của người dân nơi em sống hoặc từng tới.

—(Để xem đầy đủ đáp án của Đề thi số 3 vui lòng xem trực tuyến hoặc đăng nhập tải về di động)—

 

ĐỀ SỐ 4

Phần I: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (6 điểm) 

Đọc đoạn thơ sau trong bài thơ Gần lắm Trường Sa của Lê Thị Kim và giải đáp các câu hỏi:

Biết rằng xa lắm Trường Sa

Trùng dương đấy tôi chưa ra lần nào

Viết làm sao, viết làm sao

Câu thơ nào phải con tàu ra khơi

Thế nhưng mà đã có lòng tôi

Ở nơi cuối bến ở nơi cùng bờ

Phai đâu chùm đảo san hô

Cũng ko giống 1 chùm thơ ngọt lành

Hỡi quần đảo cuối trời xanh

Như trăm hạt thóc vãi thành đảo con

Sóng bào mãi vẫn ko mòn

Vẫn còn đại dương vẫn còn Trường Sa

[…] Ở nơi lừng lững niềm tin

Hỡi quần đảo của 4 ngàn 5 qua

Tấm lòng theo mũi tàu ra

Với tôi quần đảo Trường Sa rất gần.

(Lê Thị Kim – Nguyễn Nhật Ánh, Thành phố tháng Tư, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, 1984, tr. 15 – 17)

Câu 1. Hãy chỉ ra những đặc điểm của thơ lục bát được trình bày qua 4 dòng cuối của đoạn thơ.

Câu 2. Nêu những hình ảnh tác ví thử dụng để mô tả quần đảo Trường Sa.

Câu 3. Theo em, tại sao thi sĩ khẳng định “Với tôi quần đảo Trường Sa rất gần”?

Câu 4. Bài thơ đã khêu gợi trong em tình cảm và bổn phận gì với tổ quốc, với biển đảo quê hương?

Câu 5. So sánh nghĩa của từ mũi trong 2 trường hợp sau và cho biết ấy là từ đồng âm hay từ đa nghĩa:

a. Tấm lòng theo mũi tàu ra

Với tôi quần đảo Trường Sa rất gần.

b. Bạn Lan có chiếc mũi dọc dừa rất đẹp.

Câu 6. Tác giả đã sử dụng giải pháp tu từ gì trong 2 dòng thơ sau. Nêu tính năng của việc sử dụng giải pháp tu từ ấy.

Hỡi quần đảo cuối trời xanh

Như trăm hạt thóc vãi thành đảo con

Phần II: LÀM VĂN (4 điểm) 

Viết đoạn văn (khoảng 7 – 10 câu) san sẻ cảm nhận về 1 bài du ký nhưng mà em thích (có thể là bài du kí trong SGK hoặc trong các hợp tuyển ký, trên in-tơ-nét,…).

—- HẾT —-

ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 4

Phần I: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (6 điểm) 

Câu 1. Những đặc điểm của thơ lục bát được trình bày qua 4 dòng cuối của đoạn thơ:

– Thể thơ: Các dòng thơ được bố trí thành từng cặp – 1 dòng 6 tiếng và 1 dòng 8 tiếng.

– Vần: Tiếng cuối của dòng 6 vần với tiếng thứ 6 của dòng 8 (tin – ngàn); tiếng cuối của dòng 8 lại vần với tiếng cuối của dòng 6 tiếp theo (qua – ra).

– Thanh điệu: Trong dòng 6 và dòng 8, các tiếng thứ 6 và thứ 8 là thanh bằng (tin, ngàn, qua, ra, Sa, gần) còn tiếng thứ tư là thanh trắc (sững, của, mũi, đảo). Trong dòng 8, dù rằng tiếng thứ 6 và 8 đều là thanh bằng mà nếu tiếng thứ 6 là thanh huyền (ngàn) thì tiếng thứ 8 là thanh ngang (qua) và trái lại, tiếng thứ 6 là thanh ngang (Sa) thì tiếng thứ 8 lại là thanh huyền (gần).

– Nhịp: Trong 4 dòng thơ thì có tới 3 dòng ngắt theo nhịp chẵn.

Câu 2.

Bài thơ viết về quần đảo Trường Sa của Đất nước. Những hình ảnh tác ví thử dụng để mô tả địa danh này: quần đảo cuối trời xanh, trăm hạt thóc vãi thành đảo con, sóng bào mãi vẫn ko mòn,…

Câu 3.

Nhà thơ khẳng định “Với tôi quần đảo Trường Sa rất gần” vì về mặt địa lý thì Trường Sa rất bóng gió và thi sĩ cũng chưa trực tiếp ra thăm Trường Sa lần nào mà quần đảo này luôn ở trong trái tim thi sĩ với niềm yêu quý, kiêu hãnh.

Câu 4.

Bài thơ đã khêu gợi trong em tình cảm yêu quý, kiêu hãnh đối với vùng đất bóng gió của Đất nước, đối với những con người đang ngày đêm canh phòng, bảo vệ Trường Sa. Đọc bài thơ, em cảm thấy mình cần thiết bổn phận với Đất nước, phải có tinh thần giữ gìn và bảo vệ biển đảo quê hương.

Câu 5.

Từ mũi trong mũi tàu chỉ phần trước, nhô ra của tàu bè còn mũi trong mũi dọc dừa chỉ 1 bộ phận nhô ra trên bộ mặt, dùng để hô hấp của con người. Có thể thấy rõ 2 nghĩa này liên can với nhau nên đây là trường hợp từ đa nghĩa.

—(Để xem đầy đủ nội dung của Đề thi số 4 vui lòng xem trực tuyến hoặc đăng nhập tải về di động)—

 

Trên đây là 1 phần trích đoạn nội dung Bộ 4 đề thi HK1 môn Ngữ văn 6 Kết nối kiến thức 5 2021-2022 Trường THCS Võ Bẩm. Để xem thêm nhiều tài liệu tham khảo bổ ích khác các em chọn tính năng xem trực tuyến hoặc đăng nhập vào trang hoc247.net để tải tài liệu về máy tính.

Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các em học trò ôn tập tốt và đạt thành quả cao trong học tập.

Chúc các em học tập tốt !

Bộ 3 đề thi HK1 môn Ngữ văn 6 Kết nối kiến thức 5 2021-2022 Trường THCS Trương Quang Trọng

995

Bộ 3 đề thi HK1 môn Ngữ văn 6 Kết nối kiến thức 5 2021-2022 Trường THCS Tịnh An

1402

Đề thi HK1 môn Ngữ văn 6 Kết nối kiến thức 5 2021-2022 Trường THCS Thạch Linh

1548

Đề cương ôn tập HK1 môn Ngữ văn 6 Kết nối kiến thức 5 học 2021-2022

587

[rule_2_plain] [rule_3_plain]

#Bộ #đề #thi #HK1 #môn #Ngữ #văn #Kết #nối #tri #thức #5 #Trường #THCS #Võ #Bẩm

Với mong muốn mang đến cho các em học trò có thêm nhiều tài liệu ôn tập, sẵn sàng thật tốt cho kì thi HK1 sắp tới, ban chỉnh sửa HỌC247 xin gửi tới các em Bộ 4 đề thi HK1 môn Ngữ văn 6 Kết nối kiến thức 5 2021-2022 Trường THCS Võ Bẩm dưới đây. Chúc các em có 1 kì thi thật tốt!

TRƯỜNG THCS VÕ BẨM

ĐỀ THI HỌC KÌ 1

MÔN: NGỮ VĂN 6 KNTT

NĂM HỌC: 2021-2022

(Thời gian làm bài: 90 phút)

 

ĐỀ SỐ 1

Phần I: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (6 điểm) 

Đọc đoạn trích sau và giải đáp các câu hỏi:

Tôi tới tận gốc chanh chuyên chú theo dõi. Từng đợt, từng đợt, 7 8 con 1 khi, những chú bọ ngựa nhỏ tí ti như con muỗi, màu xanh cốm, ló cái đầu nghịch ngợm có đôi mắt thô lố lách khỏi kẽ hở trên ổ trứng mẹ, cố rướn ra, cố nhoài ra, thoát được cái đầu, cái mình… rồi nhẹ nhõm tọt khỏi ổ trứng, người treo lửng lơ trên 1 sợi tơ rất mảnh bay bay theo chiều gió. Mới ra khỏi ổ trứng, các chú nằm đờ 1 lát, rồi , rồi ngó ngoáy; các chú càng cứng càng nhúc nhắc thì sợi tơ càng dài ra, từ từ thả các chú xuống phía dưới. Cứ như là mẹ các chú đang ở ấy, nhẹ nhõm bồng từng chú nhưng mà đặt xuống 1 cái nệm êm vậy.

Chú bọ ngựa con đầu đàn “nhảy dù” trúng 1 quả chanh non. Chú đứng hiên ngang trên quả chanh tròn xinh, giương giương đôi tay kiếm bé xíu, mình lắc lư theo kiểu võ sĩ, ngước nhìn từng loạt, từng loạt đàn em mình đang “đồ bộ” xuống cực kỳ chuẩn xác và nhanh lẹ. Chú đứng trên quả chanh, mang đầy đủ dòng máu hiệp sĩ của nòi giống bọ ngựa, dũng mãnh như con sư tử đứng vờn quả cầu…

Đàn bọ ngựa mới nở chạy ton tả, tức tốc dàn quân ra khắp cây chanh, mỗi con mỗi ngả mở đầu 1 cuộc sống can đảm, tự lập.

(Vũ Tú Nam, Cái trứng bọ ngựa, trích Những tác phẩm chọn lựa dành cho thiếu nhi – Hoa lá trong vườn, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2009, tr. 29)

Câu 1. Xác định ngôi kể của người kể chuyện trong đoạn trích.

Câu 2. Liệt kê 1 số cụ thể mô tả đàn bọ ngựa con và chú bọ ngựa con đầu đàn.

Câu 3. Nhân vật “tôi” đã rất chuyên chú và nhẫn nại lúc quan sát những cái trứng bọ ngựa nở thành đàn bọ ngựa con. Em hãy chỉ ra 1 số cụ thể trình bày điều ấy.

Câu 4. Cách quan sát, mô tả của đối tượng “tôi” trình bày tình cảm gì với các chú bọ ngựa con?

Câu 5. Hãy quan sát kĩ 1 hình ảnh tự nhiên quanh em (đám mây, bông hoa, giọt sương, cây lá,…) hoặc 1 con vật nuôi và đánh dấu vài điều thú vị nhưng mà em trông thấy, cảm thấy.

Câu 6. Tìm và nêu tính năng của từ láy trong đoạn văn sau:

Từng đợt, từng đợt, 7 8 con 1 khi, những chú bọ ngựa nhỏ tí ti như con muỗi, màu xanh cốm, ló cái đầu nghịch ngợm có đôi mắt thô lố lách khỏi kẽ hở trên ổ trứng mẹ, cố rướn ra, cố nhoài ra, thoát được cái đầu, cái mình… rồi nhẹ nhõm tọt khỏi ổ trứng, người treo lửng lơ trên 1 sợi tơ rất mảnh bay bay theo chiều gió.

Câu 7. Tìm 1 câu văn có sử dụng giải pháp tu từ so sánh trong đoạn trích trên và chỉ ra tính năng của giải pháp tu từ ấy.

Phần II: LÀM VĂN (4 điểm) 

Viết bài văn kể lại 1 trải nghiệm của em.

—- HẾT —-

ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 1

Phần I: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (6 điểm) 

Câu 1. Người kể chuyện thứ bậc nhất, xưng “tôi”.

Câu 2.

– Chi tiết mô tả đàn bọ ngựa con: nhỏ tí ti như con muỗi, màu xanh cốm, ló cái đầu nghịch ngợm có đôi mắt thô lố lách khỏi kẽ hở trên ổ trứng mẹ, cố rướn ra, cố nhoài ra, thoát được cái đầu, cái mình, mới ra khỏi ổ trứng, các chú nằm đờ 1 lát, rồi , rồi ngó ngoáy; các chú càng cứng càng nhúc nhắc thì sợi tơ càng dài ra, từ từ thả các chú xuống phía dưới.

– Chi tiết mô tả chú bọ ngựa con đầu đàn: hiên ngang trên quả chanh tròn xinh, giương giương đôi tay kiếm bé xíu, mình lắc lư theo kiểu võ sĩ.

Câu 3.

– Các cụ thể mô tả đàn bọ ngựa con tính từ lúc mở đầu chui ra khỏi ổ trứng tới lúc có thể nhảy xuống và toả đi “mở đầu 1 cuộc sống can đảm, tự lập” Mỗi “quá trình” đều được tái tạo rất kĩ càng, cụ thể. Thí dụ: lách khỏi kẽ hở trên ổ trứng mẹ, cố rướn ra, cố nhoài ra, thoát được cái đầu, cái mình… rồi nhẹ nhõm tọt khỏi ổ trứng, người treo lơ  lửng trên 1 sợi tơ rất mảnh bay bay theo chiều gió…

Câu 4.

– Cách quan sát chuyên chú, nhẫn nại; cách mô tả rất cụ thể, sinh động của đối tượng “tôi” trình bày sự tò mò, ham thích và tình cảm yêu mến dành cho các chú bọ ngựa con.

Câu 5.

– Quan sát chú mèo em thấy: Chú mèo con có bộ lông màu vàng óng, đôi mắt bự tròn, đen láy. Hai chiếc tai khi nào cũng dựng đứng lên để nghe ngóng bao quanh. Cái đuôi thì nguây nguẩy liên tiếp. Chú mèo rất ngoan, cần cù bắt chuột, rất quý người.

Câu 6.

– Từ láy: tí ti thô lố, nhẹ nhõm, lửng lơ, bay bay.

– Việc sử dụng các từ láy giúp mô tả sinh động hình ảnh những chú bọ ngựa vừa mới nở: bé nhỏ, nghịch ngợm, khôn khéo.

Câu 7.

–  Câu văn có sử dụng giải pháp tu từ so sánh: Chú đứng trên quả chanh, mang đầy đủ dòng máu hiệp sĩ của nòi giống bọ ngựa, dũng mãnh như con sư tử đứng vờn quả cầu.

– Hình ảnh bọ ngựa đứng trên quả chanh được so sánh với con sư tử đứng vờn quả cầu. Biện pháp tu từ so sánh đã tô đậm vẻ đẹp khoẻ khoắn, dũng mãnh của chú bọ ngựa ngay từ khi mới sinh ra.

Phần II: LÀM VĂN (4 điểm) 

Thực hành viết theo các bước

1. Trước lúc viết

a. Chọn lựa đề tài: Chia tay mái trường Tiểu học. 

b. Tìm ý 

– Em nhớ và định kể lại kỉ niệm: Buổi học rốt cục ở trường tiểu học.

– Câu chuyện chi tiết như sau:

+ Tới lớp thật sớm, quan sát mọi thứ bao quanh.

+ Không khí của lớp học thâm trầm.

+ Cô giáo lần cuối điểm danh mọi người.

– Kỉ niệm đấy thâm thúy, đáng nhớ vì ghi lại chấm dứt 5 5 học ở trường tiểu học, chuyển sang cấp học mới, môi trường mới.

c. Lập dàn ý

– Mở bài: Nêu nói chung về kỉ niệm: Nhớ như in cái ngày rốt cục tại trường tiểu học của mình, khoảnh khắc phải chia xa mọi người.

– Thân bài: Kể cụ thể, chi tiết về kỉ niệm.

+ Tôi đi học thật sớm, nhìn kĩ lại y phục, đồ dùng của mình. Cảm giác khó tả lúc sẵn sàng ko còn là học trò tiểu học.

+ Trên đường tới trường không xa lạ, nhìn kĩ quang cảnh thấy man mác buồn.

+ Vào lớp học, quan sát bằng hữu vui cười, hồn nhiên trêu đùa.

+ Cô giáo chủ nhiệm bước vào lớp, căn dặn cả lớp.

+ Lần rốt cục, cô điểm danh sĩ số, người nào nấy đều rưng rưng, chạy ôm lấy cô.

– Kết bài: Cảm tưởng của em về kỉ niệm ấy.

+ Ấy là khoảnh khắc tuyệt hấp dẫn nhất trong những 5 tháng học lớp 5.

+ Khoảng khắc kết thúc cấp tiểu học, chuyển sang quá trình mới, bước vào lớp 6.

—(Để xem tiếp đáp án phần Làm văn vui lòng xem trực tuyến hoặc đăng nhập tải về di động)—

 

ĐỀ SỐ 2

Phần I: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (6 điểm) 

Đọc đoạn thơ sau và giải đáp các câu hỏi:

Ai xui ta nhớ Hàm Rồng

Muốn trông chẳng thấy cho lòng khôn khuây.

Từ ta quay về Sơn Tây

Con đường Nam, Bắc ít ngày vãng lai.

Sơn cầu còn đỏ chưa phai?

Non xanh còn đối sông dài còn sâu?

Còn thuyền đánh cá buông câu?

Còn xe lửa chạy trên cầu như xưa?

Lấy người nào viếng cảnh hiện thời

Nhưng mà hay cảnh có đợi chờ cùng nhau!

Ước sao sông cứ còn sâu

Non cao còn cứ giữ màu xanh xanh.

(Tản Đà, trích Nhớ cảnh cầu Hàm Rồng, trong Tuyển tập Tản Đà, NXB Văn chương, Hà Nội, 1986, tr. 231 – 232)

Câu 1. Bài thơ viết về cảnh đẹp nào của tổ quốc? Hãy chỉ ra những hình ảnh tác ví thử dụng để mô tả cảnh đẹp ấy.

Câu 2. Tình cảm của thi sĩ được trình bày như thế nào qua 2 dòng thơ đầu: Ai xui ta nhớ Hàm Rồng/ Muốn trông chẳng thấy cho lòng khôn khuây?

Câu 3. Việc tác ví thử dụng các câu hỏi nối liền liên kết với giải pháp tu từ điệp ngữ đã trình bày điều gì?

Câu 4. Em hiểu như thế nào về ý nghĩa của 2 dòng thơ: Ước sao sông cứ còn sâu/ Non cao còn cứ giữ màu xanh xanh?

Câu 5. Qua đoạn thơ, em cảm thu được tình cảm gì của tác giả?

Câu 6. Xác định và chỉ ra tính năng của giải pháp tu từ được sử dụng trong 2 dòng thơ:

Lấy người nào viếng cảnh hiện thời

Nhưng mà hay cảnh có đợi chờ cùng nhau!

Phần II: LÀM VĂN (4 điểm) 

Câu 1. Hãy tập gieo vần cho thơ lục bát bằng cách tìm tiếng thích hợp cho mỗi chỗ trống trong các đoạn thơ sau:

(1) Ngày nay dù ở nơi…

Nhưng lúc về tới cây đa đầu làng

Thì bao lăm cảnh mơ…,

Hiện ra lúc thoáng cổng làng trong tre.

(Theo Bàng Bá Lân, Cổng làng)

(2) Đêm mưa làm nhớ ko ….,

Lòng run thêm lạnh nỗi hàn rộng lớn.

Tai nương nước giọt mái…

Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn.

(Theo Huy Cận, Buồn đêm mưa)

Câu 2. Hãy viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) đánh dấu xúc cảm của em về đoạn thơ sau:

Đồng chiêm phả nắng lên ko

Cánh cò dẫn gió qua thung lúa vàng

Gió nâng tiếng hát chói chang

Long lanh lưỡi hái liếm ngang chân mây.

(Nguyễn Duy, Tiếng hát mùa gặt)

—- HẾT —-

ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 2

Phần I: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (6 điểm) 

Câu 1.

– Bài thơ viết về cảnh cầu Hàm Rồng. Những hình ảnh tác ví thử dụng để mô tả cảnh đẹp ấy: màu sơn “đỏ” của cầu, màu “xanh” của núi Ngọc Sơn, độ “sâu” của dòng sông Mã hùng vĩ, cảnh tấp nập “buông câu” của những con thuyền đánh cá, hình bóng xe lửa Bắc – Nam chạy qua chạy lại trên cầu.

Câu 2.

– Tình cảm của thi sĩ đối với cầu Hàm Rồng được trình bày rất sâu đậm qua 2 dòng thơ: Ai xui ta nhớ Hàm Rồng/ Muốn trông chẳng thấy cho lòng khôn khuây. Tác giả muốn được nhận ra cầu Hàm Rồng cho vơi phần nào nỗi nhớ túc trực trong lòng.

Câu 3.

– 4 câu hỏi nối liền liên kết với giải pháp tu từ điệp ngữ: còn đỏ, còn đối, còn sâu, còn thuyền đánh cá, còn xe lửa chạy,… đã gợi tả nỗi day dứt, băn khoăn của tác giả về cảnh sắc Hàm Rồng. Cảnh Hàm Rồng đã in sâu trong tâm hồn thi sĩ với tất cả màu sắc, hoạt động,… Giờ đây, phải xa Hàm Rồng, tác giả băn khoăn ko biết Hàm Rồng có còn giữ nguyên được những vẻ đẹp ấy hay ko.

Câu 4.

– Hai dòng thơ: Ước sao sông cứ còn sâu/ Non cao còn cứ giữ màu xanh xanh đã trình bày nỗi mong ước, khắc khoải của tác giả – mong sao cảnh Hàm Rồng ko chuyển đổi theo dòng chảy thời kì, trong bãi bể nương dâu cuộc đời. Sông Mã “cứ còn sâu”. Núi Ngọc Sơn “còn cứ giữ màu xanh xanh”,…

Câu 5.

– Đoạn thơ cho ta thấy tình cảm yêu quý khẩn thiết của thi sĩ Tản Đà đối với cầu Hàm Rồng nói riêng và đối với quê hương tổ quốc khái quát.

Câu 6. 

– Trong 2 dòng thơ: Lấy người nào viếng cảnh hiện thời/ Nhưng mà hay cảnh có đợi chờ cùng nhau!, thi sĩ đã sử dụng giải pháp tu từ nhân hoá. Cầu Hàm Rồng được tác giả đề cập như 1 con người, 1 người bạn tri kỉ tri kỷ, 1 cố tri. Nhà thơ băn khoăn tự hỏi, trong bao 5 tháng cách biệt, ko biết cảnh Hàm Rồng “có đợi chờ” mình để “cùng nhau” hàn huyên, thổ lộ.

Phần II: LÀM VĂN (4 điểm) 

Câu 1. 

(1) Ngày nay dù ở nơi xa,

Nhưng lúc về tới cây đa đầu làng;

Thì bao lăm cảnh mơ màng,

Hiện ra lúc thoáng cổng làng trong tre.

(Bàng Bá Lân, Cổng làng)

(2) Đêm mưa làm nhớ ko gian,

Lòng run thêm lạnh nỗi hàn rộng lớn.

Tai nương nước giọt mái nhà

Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn.

(Huy Cận, Buồn đêm mưa)

—(Để xem đầy đủ nội dung của Đề thi số 2 vui lòng xem trực tuyến hoặc đăng nhập tải về di động)—

 

ĐỀ SỐ 3

Phần I: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (6 điểm) 

Đọc đoạn trích sau và giải đáp các câu hỏi:

Cổ Chiên – cái tên thật lạ và thật đẹp, đẹp như dòng nước cuồn cuộn phù sa nuôi cây lá 2 bên bờ, thật ra là 1 nhánh sông Tiền Giang, dài 82 cây số. Trên bản đồ nó chỉ là 1 đường vẽ màu xanh bé nhỏ.

Nhớ những giờ địa lí hồi trung học đệ nhất cấp(1), thầy giáo chia nhóm học trò để vẽ bản đồ tổ quốc. Nhóm nào vẽ đúng và đẹp thì được điểm cao. Thầy dạy chúng tôi cách đo tỷ lệ thật chuẩn xác. Chúng tôi lấy giấy khổ phệ, nắn nót vẽ từng nét bút chì màu. Chính nhờ những buổi học đấy nhưng mà dòng Cổ Chiên vừa xa lạ vừa quen thuộc đã đi vào trí não non nớt của tôi cộng với những tên sông bóng gió đầy thương yêu khác: Nậm Thi, Lục Nam, Kinh Thầy, Rạch Gầm, Vàm Nao, Gành Hào,… Giờ địa lí của thầy  nuôi trong lòng tôi giấc mơ 1 ngày nào được đi thuyền trên khắp các dòng sông nước mình.

Tôi tới với Cổ Chiên lúc cây cầu bắc qua sông đang thành hình. Những chiếc phà tận tuy bao 5 đưa người dân qua sông giờ sắp kết thúc sứ mạng. Sẽ ko còn cảnh hy vọng qua phà giữa ngày mưa dầm hay trong cơn nắng gắt. Đường tiêu thụ nông phẩm đồng bằng sẽ thông thoáng và thuận tiện hơn. Gần Tết, hoa quả nơi đây vừa theo đường sông vừa theo đường bộ toả về các ngả. Dòng sông đã chứng kiến bao mùa hoa trái. Dừa, bắp, đậu, dưa đỏ, khoai lang, khoai mì, cam, quýt,… từ bên cồn chở về nờm nợp. Trên sông, những ngôi nhà bè nối liền nhau, mái tôn sáng lấp loáng dưới ánh nắng.

Những dòng sông, những cây cầu, những chuyến phà,… như thế đã kết nối thực tại với giấc mơ lãng du thời niên thiếu của tôi.

(Theo Huỳnh Như Phương, Thành phố những thước phim quay chậm, NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 2018, tr. 107 – 113)

(1) Trung học đệ nhất cấp: chương trình trung học từ lớp 6 tới lớp 9 (hệ thống giáo dục miền Nam trước 5 1979).

Câu 1. Người kể chuyện đã “gặp” dòng Cổ Chiên theo những cách nào?

Câu 2. Cuộc sống của người dân Nam Bộ gắn bó với dòng Cổ Chiên như thế nào?

Câu 3. Tìm trong đoạn trích những từ ngữ mô tả sự trù mật của vùng đất phương Nam.

Câu 4. Cảnh sầm uất, tấp nập trên dòng Cổ Chiên và hình ảnh “1 đường chỉ màu xanh bé nhỏ” trên bản đồ gợi cho em nghĩ suy gì?

Câu 5. Hãy nêu những nét đồng nhất về nội dung của đoạn trích này với đoạn trích trong bài thơ Cửu Long Giang ta ơi (Nguyên Hồng).

Câu 6. Ước mong thuở học sinh thường được chắp cánh từ những bài học trên lớp. Hãy viết (khoảng 5 – 7 câu) về 1 bài học đã gợi lên trong em những mơ ước về mai sau.

Câu 7. Xác định giải pháp tu từ được sử dụng trong câu sau và chỉ ra tính năng của giải pháp tu từ ấy:

Những chiếc phà tận tuy bao 5 đưa người dân qua sông giờ sắp kết thúc sứ mạng.

Phần II: LÀM VĂN (4 điểm) 

Viết đoạn văn (khoảng 7 – 10 câu) về 1 cảnh sinh hoạt của người dân nơi em sống hoặc từng tới.

—(Để xem đầy đủ đáp án của Đề thi số 3 vui lòng xem trực tuyến hoặc đăng nhập tải về di động)—

 

ĐỀ SỐ 4

Phần I: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (6 điểm) 

Đọc đoạn thơ sau trong bài thơ Gần lắm Trường Sa của Lê Thị Kim và giải đáp các câu hỏi:

Biết rằng xa lắm Trường Sa

Trùng dương đấy tôi chưa ra lần nào

Viết làm sao, viết làm sao

Câu thơ nào phải con tàu ra khơi

Thế nhưng mà đã có lòng tôi

Ở nơi cuối bến ở nơi cùng bờ

Phai đâu chùm đảo san hô

Cũng ko giống 1 chùm thơ ngọt lành

Hỡi quần đảo cuối trời xanh

Như trăm hạt thóc vãi thành đảo con

Sóng bào mãi vẫn ko mòn

Vẫn còn đại dương vẫn còn Trường Sa

[…] Ở nơi lừng lững niềm tin

Hỡi quần đảo của 4 ngàn 5 qua

Tấm lòng theo mũi tàu ra

Với tôi quần đảo Trường Sa rất gần.

(Lê Thị Kim – Nguyễn Nhật Ánh, Thành phố tháng Tư, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, 1984, tr. 15 – 17)

Câu 1. Hãy chỉ ra những đặc điểm của thơ lục bát được trình bày qua 4 dòng cuối của đoạn thơ.

Câu 2. Nêu những hình ảnh tác ví thử dụng để mô tả quần đảo Trường Sa.

Câu 3. Theo em, tại sao thi sĩ khẳng định “Với tôi quần đảo Trường Sa rất gần”?

Câu 4. Bài thơ đã khêu gợi trong em tình cảm và bổn phận gì với tổ quốc, với biển đảo quê hương?

Câu 5. So sánh nghĩa của từ mũi trong 2 trường hợp sau và cho biết ấy là từ đồng âm hay từ đa nghĩa:

a. Tấm lòng theo mũi tàu ra

Với tôi quần đảo Trường Sa rất gần.

b. Bạn Lan có chiếc mũi dọc dừa rất đẹp.

Câu 6. Tác giả đã sử dụng giải pháp tu từ gì trong 2 dòng thơ sau. Nêu tính năng của việc sử dụng giải pháp tu từ ấy.

Hỡi quần đảo cuối trời xanh

Như trăm hạt thóc vãi thành đảo con

Phần II: LÀM VĂN (4 điểm) 

Viết đoạn văn (khoảng 7 – 10 câu) san sẻ cảm nhận về 1 bài du ký nhưng mà em thích (có thể là bài du kí trong SGK hoặc trong các hợp tuyển ký, trên in-tơ-nét,…).

—- HẾT —-

ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 4

Phần I: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (6 điểm) 

Câu 1. Những đặc điểm của thơ lục bát được trình bày qua 4 dòng cuối của đoạn thơ:

– Thể thơ: Các dòng thơ được bố trí thành từng cặp – 1 dòng 6 tiếng và 1 dòng 8 tiếng.

– Vần: Tiếng cuối của dòng 6 vần với tiếng thứ 6 của dòng 8 (tin – ngàn); tiếng cuối của dòng 8 lại vần với tiếng cuối của dòng 6 tiếp theo (qua – ra).

– Thanh điệu: Trong dòng 6 và dòng 8, các tiếng thứ 6 và thứ 8 là thanh bằng (tin, ngàn, qua, ra, Sa, gần) còn tiếng thứ tư là thanh trắc (sững, của, mũi, đảo). Trong dòng 8, dù rằng tiếng thứ 6 và 8 đều là thanh bằng mà nếu tiếng thứ 6 là thanh huyền (ngàn) thì tiếng thứ 8 là thanh ngang (qua) và trái lại, tiếng thứ 6 là thanh ngang (Sa) thì tiếng thứ 8 lại là thanh huyền (gần).

– Nhịp: Trong 4 dòng thơ thì có tới 3 dòng ngắt theo nhịp chẵn.

Câu 2.

Bài thơ viết về quần đảo Trường Sa của Đất nước. Những hình ảnh tác ví thử dụng để mô tả địa danh này: quần đảo cuối trời xanh, trăm hạt thóc vãi thành đảo con, sóng bào mãi vẫn ko mòn,…

Câu 3.

Nhà thơ khẳng định “Với tôi quần đảo Trường Sa rất gần” vì về mặt địa lý thì Trường Sa rất bóng gió và thi sĩ cũng chưa trực tiếp ra thăm Trường Sa lần nào mà quần đảo này luôn ở trong trái tim thi sĩ với niềm yêu quý, kiêu hãnh.

Câu 4.

Bài thơ đã khêu gợi trong em tình cảm yêu quý, kiêu hãnh đối với vùng đất bóng gió của Đất nước, đối với những con người đang ngày đêm canh phòng, bảo vệ Trường Sa. Đọc bài thơ, em cảm thấy mình cần thiết bổn phận với Đất nước, phải có tinh thần giữ gìn và bảo vệ biển đảo quê hương.

Câu 5.

Từ mũi trong mũi tàu chỉ phần trước, nhô ra của tàu bè còn mũi trong mũi dọc dừa chỉ 1 bộ phận nhô ra trên bộ mặt, dùng để hô hấp của con người. Có thể thấy rõ 2 nghĩa này liên can với nhau nên đây là trường hợp từ đa nghĩa.

—(Để xem đầy đủ nội dung của Đề thi số 4 vui lòng xem trực tuyến hoặc đăng nhập tải về di động)—

 

Trên đây là 1 phần trích đoạn nội dung Bộ 4 đề thi HK1 môn Ngữ văn 6 Kết nối kiến thức 5 2021-2022 Trường THCS Võ Bẩm. Để xem thêm nhiều tài liệu tham khảo bổ ích khác các em chọn tính năng xem trực tuyến hoặc đăng nhập vào trang hoc247.net để tải tài liệu về máy tính.

Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các em học trò ôn tập tốt và đạt thành quả cao trong học tập.

Chúc các em học tập tốt !

.

Xem thêm thông tin Bộ 4 đề thi HK1 môn Ngữ văn 6 Kết nối tri thức năm 2021-2022 Trường THCS Võ Bẩm

Bộ 4 đề thi HK1 môn Ngữ văn 6 Kết nối kiến thức 5 2021-2022 Trường THCS Võ Bẩm

Với mong muốn mang đến cho các em học trò có thêm nhiều tài liệu ôn tập, sẵn sàng thật tốt cho kì thi HK1 sắp tới, ban chỉnh sửa HỌC247 xin gửi tới các em Bộ 4 đề thi HK1 môn Ngữ văn 6 Kết nối kiến thức 5 2021-2022 Trường THCS Võ Bẩm dưới đây. Chúc các em có 1 kì thi thật tốt!

TRƯỜNG THCS VÕ BẨM

ĐỀ THI HỌC KÌ 1

MÔN: NGỮ VĂN 6 KNTT

NĂM HỌC: 2021-2022

(Thời gian làm bài: 90 phút)

 

ĐỀ SỐ 1

Phần I: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (6 điểm) 

Đọc đoạn trích sau và giải đáp các câu hỏi:

Tôi tới tận gốc chanh chuyên chú theo dõi. Từng đợt, từng đợt, 7 8 con 1 khi, những chú bọ ngựa nhỏ tí ti như con muỗi, màu xanh cốm, ló cái đầu nghịch ngợm có đôi mắt thô lố lách khỏi kẽ hở trên ổ trứng mẹ, cố rướn ra, cố nhoài ra, thoát được cái đầu, cái mình… rồi nhẹ nhõm tọt khỏi ổ trứng, người treo lửng lơ trên 1 sợi tơ rất mảnh bay bay theo chiều gió. Mới ra khỏi ổ trứng, các chú nằm đờ 1 lát, rồi , rồi ngó ngoáy; các chú càng cứng càng nhúc nhắc thì sợi tơ càng dài ra, từ từ thả các chú xuống phía dưới. Cứ như là mẹ các chú đang ở ấy, nhẹ nhõm bồng từng chú nhưng mà đặt xuống 1 cái nệm êm vậy.

Chú bọ ngựa con đầu đàn “nhảy dù” trúng 1 quả chanh non. Chú đứng hiên ngang trên quả chanh tròn xinh, giương giương đôi tay kiếm bé xíu, mình lắc lư theo kiểu võ sĩ, ngước nhìn từng loạt, từng loạt đàn em mình đang “đồ bộ” xuống cực kỳ chuẩn xác và nhanh lẹ. Chú đứng trên quả chanh, mang đầy đủ dòng máu hiệp sĩ của nòi giống bọ ngựa, dũng mãnh như con sư tử đứng vờn quả cầu…

Đàn bọ ngựa mới nở chạy ton tả, tức tốc dàn quân ra khắp cây chanh, mỗi con mỗi ngả mở đầu 1 cuộc sống can đảm, tự lập.

(Vũ Tú Nam, Cái trứng bọ ngựa, trích Những tác phẩm chọn lựa dành cho thiếu nhi – Hoa lá trong vườn, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2009, tr. 29)

Câu 1. Xác định ngôi kể của người kể chuyện trong đoạn trích.

Câu 2. Liệt kê 1 số cụ thể mô tả đàn bọ ngựa con và chú bọ ngựa con đầu đàn.

Câu 3. Nhân vật “tôi” đã rất chuyên chú và nhẫn nại lúc quan sát những cái trứng bọ ngựa nở thành đàn bọ ngựa con. Em hãy chỉ ra 1 số cụ thể trình bày điều ấy.

Câu 4. Cách quan sát, mô tả của đối tượng “tôi” trình bày tình cảm gì với các chú bọ ngựa con?

Câu 5. Hãy quan sát kĩ 1 hình ảnh tự nhiên quanh em (đám mây, bông hoa, giọt sương, cây lá,…) hoặc 1 con vật nuôi và đánh dấu vài điều thú vị nhưng mà em trông thấy, cảm thấy.

Câu 6. Tìm và nêu tính năng của từ láy trong đoạn văn sau:

Từng đợt, từng đợt, 7 8 con 1 khi, những chú bọ ngựa nhỏ tí ti như con muỗi, màu xanh cốm, ló cái đầu nghịch ngợm có đôi mắt thô lố lách khỏi kẽ hở trên ổ trứng mẹ, cố rướn ra, cố nhoài ra, thoát được cái đầu, cái mình… rồi nhẹ nhõm tọt khỏi ổ trứng, người treo lửng lơ trên 1 sợi tơ rất mảnh bay bay theo chiều gió.

Câu 7. Tìm 1 câu văn có sử dụng giải pháp tu từ so sánh trong đoạn trích trên và chỉ ra tính năng của giải pháp tu từ ấy.

Phần II: LÀM VĂN (4 điểm) 

Viết bài văn kể lại 1 trải nghiệm của em.

—- HẾT —-

ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 1

Phần I: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (6 điểm) 

Câu 1. Người kể chuyện thứ bậc nhất, xưng “tôi”.

Câu 2.

– Chi tiết mô tả đàn bọ ngựa con: nhỏ tí ti như con muỗi, màu xanh cốm, ló cái đầu nghịch ngợm có đôi mắt thô lố lách khỏi kẽ hở trên ổ trứng mẹ, cố rướn ra, cố nhoài ra, thoát được cái đầu, cái mình, mới ra khỏi ổ trứng, các chú nằm đờ 1 lát, rồi , rồi ngó ngoáy; các chú càng cứng càng nhúc nhắc thì sợi tơ càng dài ra, từ từ thả các chú xuống phía dưới.

– Chi tiết mô tả chú bọ ngựa con đầu đàn: hiên ngang trên quả chanh tròn xinh, giương giương đôi tay kiếm bé xíu, mình lắc lư theo kiểu võ sĩ.

Câu 3.

– Các cụ thể mô tả đàn bọ ngựa con tính từ lúc mở đầu chui ra khỏi ổ trứng tới lúc có thể nhảy xuống và toả đi “mở đầu 1 cuộc sống can đảm, tự lập” Mỗi “quá trình” đều được tái tạo rất kĩ càng, cụ thể. Thí dụ: lách khỏi kẽ hở trên ổ trứng mẹ, cố rướn ra, cố nhoài ra, thoát được cái đầu, cái mình… rồi nhẹ nhõm tọt khỏi ổ trứng, người treo lơ  lửng trên 1 sợi tơ rất mảnh bay bay theo chiều gió…

Câu 4.

– Cách quan sát chuyên chú, nhẫn nại; cách mô tả rất cụ thể, sinh động của đối tượng “tôi” trình bày sự tò mò, ham thích và tình cảm yêu mến dành cho các chú bọ ngựa con.

Câu 5.

– Quan sát chú mèo em thấy: Chú mèo con có bộ lông màu vàng óng, đôi mắt bự tròn, đen láy. Hai chiếc tai khi nào cũng dựng đứng lên để nghe ngóng bao quanh. Cái đuôi thì nguây nguẩy liên tiếp. Chú mèo rất ngoan, cần cù bắt chuột, rất quý người.

Câu 6.

– Từ láy: tí ti thô lố, nhẹ nhõm, lửng lơ, bay bay.

– Việc sử dụng các từ láy giúp mô tả sinh động hình ảnh những chú bọ ngựa vừa mới nở: bé nhỏ, nghịch ngợm, khôn khéo.

Câu 7.

–  Câu văn có sử dụng giải pháp tu từ so sánh: Chú đứng trên quả chanh, mang đầy đủ dòng máu hiệp sĩ của nòi giống bọ ngựa, dũng mãnh như con sư tử đứng vờn quả cầu.

– Hình ảnh bọ ngựa đứng trên quả chanh được so sánh với con sư tử đứng vờn quả cầu. Biện pháp tu từ so sánh đã tô đậm vẻ đẹp khoẻ khoắn, dũng mãnh của chú bọ ngựa ngay từ khi mới sinh ra.

Phần II: LÀM VĂN (4 điểm) 

Thực hành viết theo các bước

1. Trước lúc viết

a. Chọn lựa đề tài: Chia tay mái trường Tiểu học. 

b. Tìm ý 

– Em nhớ và định kể lại kỉ niệm: Buổi học rốt cục ở trường tiểu học.

– Câu chuyện chi tiết như sau:

+ Tới lớp thật sớm, quan sát mọi thứ bao quanh.

+ Không khí của lớp học thâm trầm.

+ Cô giáo lần cuối điểm danh mọi người.

– Kỉ niệm đấy thâm thúy, đáng nhớ vì ghi lại chấm dứt 5 5 học ở trường tiểu học, chuyển sang cấp học mới, môi trường mới.

c. Lập dàn ý

– Mở bài: Nêu nói chung về kỉ niệm: Nhớ như in cái ngày rốt cục tại trường tiểu học của mình, khoảnh khắc phải chia xa mọi người.

– Thân bài: Kể cụ thể, chi tiết về kỉ niệm.

+ Tôi đi học thật sớm, nhìn kĩ lại y phục, đồ dùng của mình. Cảm giác khó tả lúc sẵn sàng ko còn là học trò tiểu học.

+ Trên đường tới trường không xa lạ, nhìn kĩ quang cảnh thấy man mác buồn.

+ Vào lớp học, quan sát bằng hữu vui cười, hồn nhiên trêu đùa.

+ Cô giáo chủ nhiệm bước vào lớp, căn dặn cả lớp.

+ Lần rốt cục, cô điểm danh sĩ số, người nào nấy đều rưng rưng, chạy ôm lấy cô.

– Kết bài: Cảm tưởng của em về kỉ niệm ấy.

+ Ấy là khoảnh khắc tuyệt hấp dẫn nhất trong những 5 tháng học lớp 5.

+ Khoảng khắc kết thúc cấp tiểu học, chuyển sang quá trình mới, bước vào lớp 6.

—(Để xem tiếp đáp án phần Làm văn vui lòng xem trực tuyến hoặc đăng nhập tải về di động)—

 

ĐỀ SỐ 2

Phần I: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (6 điểm) 

Đọc đoạn thơ sau và giải đáp các câu hỏi:

Ai xui ta nhớ Hàm Rồng

Muốn trông chẳng thấy cho lòng khôn khuây.

Từ ta quay về Sơn Tây

Con đường Nam, Bắc ít ngày vãng lai.

Sơn cầu còn đỏ chưa phai?

Non xanh còn đối sông dài còn sâu?

Còn thuyền đánh cá buông câu?

Còn xe lửa chạy trên cầu như xưa?

Lấy người nào viếng cảnh hiện thời

Nhưng mà hay cảnh có đợi chờ cùng nhau!

Ước sao sông cứ còn sâu

Non cao còn cứ giữ màu xanh xanh.

(Tản Đà, trích Nhớ cảnh cầu Hàm Rồng, trong Tuyển tập Tản Đà, NXB Văn chương, Hà Nội, 1986, tr. 231 – 232)

Câu 1. Bài thơ viết về cảnh đẹp nào của tổ quốc? Hãy chỉ ra những hình ảnh tác ví thử dụng để mô tả cảnh đẹp ấy.

Câu 2. Tình cảm của thi sĩ được trình bày như thế nào qua 2 dòng thơ đầu: Ai xui ta nhớ Hàm Rồng/ Muốn trông chẳng thấy cho lòng khôn khuây?

Câu 3. Việc tác ví thử dụng các câu hỏi nối liền liên kết với giải pháp tu từ điệp ngữ đã trình bày điều gì?

Câu 4. Em hiểu như thế nào về ý nghĩa của 2 dòng thơ: Ước sao sông cứ còn sâu/ Non cao còn cứ giữ màu xanh xanh?

Câu 5. Qua đoạn thơ, em cảm thu được tình cảm gì của tác giả?

Câu 6. Xác định và chỉ ra tính năng của giải pháp tu từ được sử dụng trong 2 dòng thơ:

Lấy người nào viếng cảnh hiện thời

Nhưng mà hay cảnh có đợi chờ cùng nhau!

Phần II: LÀM VĂN (4 điểm) 

Câu 1. Hãy tập gieo vần cho thơ lục bát bằng cách tìm tiếng thích hợp cho mỗi chỗ trống trong các đoạn thơ sau:

(1) Ngày nay dù ở nơi…

Nhưng lúc về tới cây đa đầu làng

Thì bao lăm cảnh mơ…,

Hiện ra lúc thoáng cổng làng trong tre.

(Theo Bàng Bá Lân, Cổng làng)

(2) Đêm mưa làm nhớ ko ….,

Lòng run thêm lạnh nỗi hàn rộng lớn.

Tai nương nước giọt mái…

Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn.

(Theo Huy Cận, Buồn đêm mưa)

Câu 2. Hãy viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) đánh dấu xúc cảm của em về đoạn thơ sau:

Đồng chiêm phả nắng lên ko

Cánh cò dẫn gió qua thung lúa vàng

Gió nâng tiếng hát chói chang

Long lanh lưỡi hái liếm ngang chân mây.

(Nguyễn Duy, Tiếng hát mùa gặt)

—- HẾT —-

ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 2

Phần I: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (6 điểm) 

Câu 1.

– Bài thơ viết về cảnh cầu Hàm Rồng. Những hình ảnh tác ví thử dụng để mô tả cảnh đẹp ấy: màu sơn “đỏ” của cầu, màu “xanh” của núi Ngọc Sơn, độ “sâu” của dòng sông Mã hùng vĩ, cảnh tấp nập “buông câu” của những con thuyền đánh cá, hình bóng xe lửa Bắc – Nam chạy qua chạy lại trên cầu.

Câu 2.

– Tình cảm của thi sĩ đối với cầu Hàm Rồng được trình bày rất sâu đậm qua 2 dòng thơ: Ai xui ta nhớ Hàm Rồng/ Muốn trông chẳng thấy cho lòng khôn khuây. Tác giả muốn được nhận ra cầu Hàm Rồng cho vơi phần nào nỗi nhớ túc trực trong lòng.

Câu 3.

– 4 câu hỏi nối liền liên kết với giải pháp tu từ điệp ngữ: còn đỏ, còn đối, còn sâu, còn thuyền đánh cá, còn xe lửa chạy,… đã gợi tả nỗi day dứt, băn khoăn của tác giả về cảnh sắc Hàm Rồng. Cảnh Hàm Rồng đã in sâu trong tâm hồn thi sĩ với tất cả màu sắc, hoạt động,… Giờ đây, phải xa Hàm Rồng, tác giả băn khoăn ko biết Hàm Rồng có còn giữ nguyên được những vẻ đẹp ấy hay ko.

Câu 4.

– Hai dòng thơ: Ước sao sông cứ còn sâu/ Non cao còn cứ giữ màu xanh xanh đã trình bày nỗi mong ước, khắc khoải của tác giả – mong sao cảnh Hàm Rồng ko chuyển đổi theo dòng chảy thời kì, trong bãi bể nương dâu cuộc đời. Sông Mã “cứ còn sâu”. Núi Ngọc Sơn “còn cứ giữ màu xanh xanh”,…

Câu 5.

– Đoạn thơ cho ta thấy tình cảm yêu quý khẩn thiết của thi sĩ Tản Đà đối với cầu Hàm Rồng nói riêng và đối với quê hương tổ quốc khái quát.

Câu 6. 

– Trong 2 dòng thơ: Lấy người nào viếng cảnh hiện thời/ Nhưng mà hay cảnh có đợi chờ cùng nhau!, thi sĩ đã sử dụng giải pháp tu từ nhân hoá. Cầu Hàm Rồng được tác giả đề cập như 1 con người, 1 người bạn tri kỉ tri kỷ, 1 cố tri. Nhà thơ băn khoăn tự hỏi, trong bao 5 tháng cách biệt, ko biết cảnh Hàm Rồng “có đợi chờ” mình để “cùng nhau” hàn huyên, thổ lộ.

Phần II: LÀM VĂN (4 điểm) 

Câu 1. 

(1) Ngày nay dù ở nơi xa,

Nhưng lúc về tới cây đa đầu làng;

Thì bao lăm cảnh mơ màng,

Hiện ra lúc thoáng cổng làng trong tre.

(Bàng Bá Lân, Cổng làng)

(2) Đêm mưa làm nhớ ko gian,

Lòng run thêm lạnh nỗi hàn rộng lớn.

Tai nương nước giọt mái nhà

Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn.

(Huy Cận, Buồn đêm mưa)

—(Để xem đầy đủ nội dung của Đề thi số 2 vui lòng xem trực tuyến hoặc đăng nhập tải về di động)—

 

ĐỀ SỐ 3

Phần I: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (6 điểm) 

Đọc đoạn trích sau và giải đáp các câu hỏi:

Cổ Chiên – cái tên thật lạ và thật đẹp, đẹp như dòng nước cuồn cuộn phù sa nuôi cây lá 2 bên bờ, thật ra là 1 nhánh sông Tiền Giang, dài 82 cây số. Trên bản đồ nó chỉ là 1 đường vẽ màu xanh bé nhỏ.

Nhớ những giờ địa lí hồi trung học đệ nhất cấp(1), thầy giáo chia nhóm học trò để vẽ bản đồ tổ quốc. Nhóm nào vẽ đúng và đẹp thì được điểm cao. Thầy dạy chúng tôi cách đo tỷ lệ thật chuẩn xác. Chúng tôi lấy giấy khổ phệ, nắn nót vẽ từng nét bút chì màu. Chính nhờ những buổi học đấy nhưng mà dòng Cổ Chiên vừa xa lạ vừa quen thuộc đã đi vào trí não non nớt của tôi cộng với những tên sông bóng gió đầy thương yêu khác: Nậm Thi, Lục Nam, Kinh Thầy, Rạch Gầm, Vàm Nao, Gành Hào,… Giờ địa lí của thầy  nuôi trong lòng tôi giấc mơ 1 ngày nào được đi thuyền trên khắp các dòng sông nước mình.

Tôi tới với Cổ Chiên lúc cây cầu bắc qua sông đang thành hình. Những chiếc phà tận tuy bao 5 đưa người dân qua sông giờ sắp kết thúc sứ mạng. Sẽ ko còn cảnh hy vọng qua phà giữa ngày mưa dầm hay trong cơn nắng gắt. Đường tiêu thụ nông phẩm đồng bằng sẽ thông thoáng và thuận tiện hơn. Gần Tết, hoa quả nơi đây vừa theo đường sông vừa theo đường bộ toả về các ngả. Dòng sông đã chứng kiến bao mùa hoa trái. Dừa, bắp, đậu, dưa đỏ, khoai lang, khoai mì, cam, quýt,… từ bên cồn chở về nờm nợp. Trên sông, những ngôi nhà bè nối liền nhau, mái tôn sáng lấp loáng dưới ánh nắng.

Những dòng sông, những cây cầu, những chuyến phà,… như thế đã kết nối thực tại với giấc mơ lãng du thời niên thiếu của tôi.

(Theo Huỳnh Như Phương, Thành phố những thước phim quay chậm, NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 2018, tr. 107 – 113)

(1) Trung học đệ nhất cấp: chương trình trung học từ lớp 6 tới lớp 9 (hệ thống giáo dục miền Nam trước 5 1979).

Câu 1. Người kể chuyện đã “gặp” dòng Cổ Chiên theo những cách nào?

Câu 2. Cuộc sống của người dân Nam Bộ gắn bó với dòng Cổ Chiên như thế nào?

Câu 3. Tìm trong đoạn trích những từ ngữ mô tả sự trù mật của vùng đất phương Nam.

Câu 4. Cảnh sầm uất, tấp nập trên dòng Cổ Chiên và hình ảnh “1 đường chỉ màu xanh bé nhỏ” trên bản đồ gợi cho em nghĩ suy gì?

Câu 5. Hãy nêu những nét đồng nhất về nội dung của đoạn trích này với đoạn trích trong bài thơ Cửu Long Giang ta ơi (Nguyên Hồng).

Câu 6. Ước mong thuở học sinh thường được chắp cánh từ những bài học trên lớp. Hãy viết (khoảng 5 – 7 câu) về 1 bài học đã gợi lên trong em những mơ ước về mai sau.

Câu 7. Xác định giải pháp tu từ được sử dụng trong câu sau và chỉ ra tính năng của giải pháp tu từ ấy:

Những chiếc phà tận tuy bao 5 đưa người dân qua sông giờ sắp kết thúc sứ mạng.

Phần II: LÀM VĂN (4 điểm) 

Viết đoạn văn (khoảng 7 – 10 câu) về 1 cảnh sinh hoạt của người dân nơi em sống hoặc từng tới.

—(Để xem đầy đủ đáp án của Đề thi số 3 vui lòng xem trực tuyến hoặc đăng nhập tải về di động)—

 

ĐỀ SỐ 4

Phần I: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (6 điểm) 

Đọc đoạn thơ sau trong bài thơ Gần lắm Trường Sa của Lê Thị Kim và giải đáp các câu hỏi:

Biết rằng xa lắm Trường Sa

Trùng dương đấy tôi chưa ra lần nào

Viết làm sao, viết làm sao

Câu thơ nào phải con tàu ra khơi

Thế nhưng mà đã có lòng tôi

Ở nơi cuối bến ở nơi cùng bờ

Phai đâu chùm đảo san hô

Cũng ko giống 1 chùm thơ ngọt lành

Hỡi quần đảo cuối trời xanh

Như trăm hạt thóc vãi thành đảo con

Sóng bào mãi vẫn ko mòn

Vẫn còn đại dương vẫn còn Trường Sa

[…] Ở nơi lừng lững niềm tin

Hỡi quần đảo của 4 ngàn 5 qua

Tấm lòng theo mũi tàu ra

Với tôi quần đảo Trường Sa rất gần.

(Lê Thị Kim – Nguyễn Nhật Ánh, Thành phố tháng Tư, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, 1984, tr. 15 – 17)

Câu 1. Hãy chỉ ra những đặc điểm của thơ lục bát được trình bày qua 4 dòng cuối của đoạn thơ.

Câu 2. Nêu những hình ảnh tác ví thử dụng để mô tả quần đảo Trường Sa.

Câu 3. Theo em, tại sao thi sĩ khẳng định “Với tôi quần đảo Trường Sa rất gần”?

Câu 4. Bài thơ đã khêu gợi trong em tình cảm và bổn phận gì với tổ quốc, với biển đảo quê hương?

Câu 5. So sánh nghĩa của từ mũi trong 2 trường hợp sau và cho biết ấy là từ đồng âm hay từ đa nghĩa:

a. Tấm lòng theo mũi tàu ra

Với tôi quần đảo Trường Sa rất gần.

b. Bạn Lan có chiếc mũi dọc dừa rất đẹp.

Câu 6. Tác giả đã sử dụng giải pháp tu từ gì trong 2 dòng thơ sau. Nêu tính năng của việc sử dụng giải pháp tu từ ấy.

Hỡi quần đảo cuối trời xanh

Như trăm hạt thóc vãi thành đảo con

Phần II: LÀM VĂN (4 điểm) 

Viết đoạn văn (khoảng 7 – 10 câu) san sẻ cảm nhận về 1 bài du ký nhưng mà em thích (có thể là bài du kí trong SGK hoặc trong các hợp tuyển ký, trên in-tơ-nét,…).

—- HẾT —-

ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 4

Phần I: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VÀ THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (6 điểm) 

Câu 1. Những đặc điểm của thơ lục bát được trình bày qua 4 dòng cuối của đoạn thơ:

– Thể thơ: Các dòng thơ được bố trí thành từng cặp – 1 dòng 6 tiếng và 1 dòng 8 tiếng.

– Vần: Tiếng cuối của dòng 6 vần với tiếng thứ 6 của dòng 8 (tin – ngàn); tiếng cuối của dòng 8 lại vần với tiếng cuối của dòng 6 tiếp theo (qua – ra).

– Thanh điệu: Trong dòng 6 và dòng 8, các tiếng thứ 6 và thứ 8 là thanh bằng (tin, ngàn, qua, ra, Sa, gần) còn tiếng thứ tư là thanh trắc (sững, của, mũi, đảo). Trong dòng 8, dù rằng tiếng thứ 6 và 8 đều là thanh bằng mà nếu tiếng thứ 6 là thanh huyền (ngàn) thì tiếng thứ 8 là thanh ngang (qua) và trái lại, tiếng thứ 6 là thanh ngang (Sa) thì tiếng thứ 8 lại là thanh huyền (gần).

– Nhịp: Trong 4 dòng thơ thì có tới 3 dòng ngắt theo nhịp chẵn.

Câu 2.

Bài thơ viết về quần đảo Trường Sa của Đất nước. Những hình ảnh tác ví thử dụng để mô tả địa danh này: quần đảo cuối trời xanh, trăm hạt thóc vãi thành đảo con, sóng bào mãi vẫn ko mòn,…

Câu 3.

Nhà thơ khẳng định “Với tôi quần đảo Trường Sa rất gần” vì về mặt địa lý thì Trường Sa rất bóng gió và thi sĩ cũng chưa trực tiếp ra thăm Trường Sa lần nào mà quần đảo này luôn ở trong trái tim thi sĩ với niềm yêu quý, kiêu hãnh.

Câu 4.

Bài thơ đã khêu gợi trong em tình cảm yêu quý, kiêu hãnh đối với vùng đất bóng gió của Đất nước, đối với những con người đang ngày đêm canh phòng, bảo vệ Trường Sa. Đọc bài thơ, em cảm thấy mình cần thiết bổn phận với Đất nước, phải có tinh thần giữ gìn và bảo vệ biển đảo quê hương.

Câu 5.

Từ mũi trong mũi tàu chỉ phần trước, nhô ra của tàu bè còn mũi trong mũi dọc dừa chỉ 1 bộ phận nhô ra trên bộ mặt, dùng để hô hấp của con người. Có thể thấy rõ 2 nghĩa này liên can với nhau nên đây là trường hợp từ đa nghĩa.

—(Để xem đầy đủ nội dung của Đề thi số 4 vui lòng xem trực tuyến hoặc đăng nhập tải về di động)—

 

Trên đây là 1 phần trích đoạn nội dung Bộ 4 đề thi HK1 môn Ngữ văn 6 Kết nối kiến thức 5 2021-2022 Trường THCS Võ Bẩm. Để xem thêm nhiều tài liệu tham khảo bổ ích khác các em chọn tính năng xem trực tuyến hoặc đăng nhập vào trang hoc247.net để tải tài liệu về máy tính.

Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các em học trò ôn tập tốt và đạt thành quả cao trong học tập.

Chúc các em học tập tốt !

Bộ 3 đề thi HK1 môn Ngữ văn 6 Kết nối kiến thức 5 2021-2022 Trường THCS Trương Quang Trọng

995

Bộ 3 đề thi HK1 môn Ngữ văn 6 Kết nối kiến thức 5 2021-2022 Trường THCS Tịnh An

1402

Đề thi HK1 môn Ngữ văn 6 Kết nối kiến thức 5 2021-2022 Trường THCS Thạch Linh

1548

Đề cương ôn tập HK1 môn Ngữ văn 6 Kết nối kiến thức 5 học 2021-2022

587

[rule_2_plain] [rule_3_plain]

#Bộ #đề #thi #HK1 #môn #Ngữ #văn #Kết #nối #tri #thức #5 #Trường #THCS #Võ #Bẩm

#Bộ #đề #thi #HK1 #môn #Ngữ #văn #Kết #nối #tri #thức #5 #Trường #THCS #Võ #Bẩm

Happy Home

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button